- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HNGĐ-ST Ngày: 23 – 3 – 2022 Tranh chấp về xác định cha cho con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Thiện;
2. Ông Lê Văn Công.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 402/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2021 về việc: “Tranh chấp về xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2022, giữa:
Nguyên đơn: Ông Trần Xuân T, sinh năm 1995; nơi thường trú: Ấp H, xã C, huyện P, tỉnh B; nơi tạm trú: KDC V, khu phố K, phường A, thành phố Y, tỉnh D. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Bà Hồ Ngọc H, sinh năm 1996; nơi thường trú: khu phố N, phường A, thành phố Y, tỉnh D. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Bá L, sinh năm 1992; nơi thường trú: Thôn Đ, xã Q, huyện V, tỉnh R, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Bà Hồ Ngọc H và Nguyễn Bá L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND phường An Thạnh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 160 ngày 16/11/2017, tuy nhiên hai người đã sống ly thân từ 09 năm 2019. Sau đó ông Thành có tự nguyện tìm hiểu, quen biết và chung sống với bà Hồ Ngọc H từ tháng 12 năm 2019 cho đến nay, không tổ chức đám cưới và không có đăng ký kết hôn do bà H chưa ly hôn với ông L. Quá trình chung sống, ông T và bà H có 01 người con chung tên Trần Ngọc O, sinh ngày 22/02/2021 nhưng do chưa đăng ký kết hôn nên không làm giấy khai sinh cho cháu bé được.
Cháu bé do bà Hồ Ngọc H sinh vào lúc 05 giờ 30 phút ngày 22/02/2021 tại bệnh viện Từ Dũ, Thành phố Hồ Chí Minh, giới tính nữ, theo giấy chứng sinh số 0000190 do Bệnh viện Từ Dũ cấp, Trần Ngọc O là tên dự định đặt cho cháu bé. Nay ông Thành nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định tôi có quan hệ huyết thống cha con với cháu Trần Ngọc O, sinh năm 22/02/2021.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu, sổ tạm trú (bản chứng thực).
Theo các lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn trình bày:
Bà H thống nhất với nội dung đơn khởi kiện và lời khai của ông T về nội dung sự việc, thống nhất yêu cầu khởi kiện của ông T về việc xác định cháu Trần Ngọc O, sinh ngày 22/02/2021 là con ruột của ông Trần Xuân T. Cháu bé do bà H sinh vào lúc 05 giờ 30 phút ngày 22/02/2021 tại bệnh viện Từ Dũ, Thành phố Hồ Chí Minh, giới tính nữ, theo giấy chứng sinh số 0000190 do Bệnh viện Từ Dũ cấp, Trần Ngọc O là tên dự định đặt cho cháu bé.
Chứng cứ bị đơn cung cấp: Giấy chứng sinh, kết luận giám định AND (bản chứng thực); giấy chứng nhận kết hôn (bản photo).
Quá trình tố tụng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bá L đã được tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không cung cấp bản tự khai hay bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, ông Linh đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là phù hợp quy định pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về xác định cha cho con đối với bị đơn bà Hồ Ngọc H, có nơi cư trú tại địa chỉ khu phố N, phường A, thành phố Y, tỉnh D. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp về xác định cha cho con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Bá L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ và lời khai của nguyên đơn và bị đơn thì có thể xác định được bà Hồ Ngọc H và Nguyễn Bá L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND phường An Thạnh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 160 ngày 16/11/2017, tuy nhiên hai người đã sống ly thân từ 09 năm 2019 nhưng chưa ly hôn. Sau đó ông Thành có tự nguyện tìm hiểu, quen biết và chung sống với bà Hồ Ngọc H từ tháng 12 năm 2019 cho đến nay, không tổ chức đám cưới và không có đăng ký kết hôn do bà H chưa ly hôn với ông L. Quá trình chung sống, ông T và bà H có 01 người con chung nhưng do chưa đăng ký kết hôn nên không làm giấy khai sinh cho cháu bé được. Cháu bé do bà Hồ Ngọc H sinh vào lúc 05 giờ 30 phút ngày 22/02/2021, theo giấy chứng sinh số 0000190 tại bệnh viện Từ Dũ, Thành phố Hồ Chí Minh, giới tính nữ. Nay ông T nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định ông T có quan hệ huyết thống cha con với cháu bé do bà H sinh ra.
Theo kết luận giám định số 4902/C09B ngày 14112/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Ông Trần Xuân T và bà Hồ Ngọc H có quan hệ huyết thống cha – mẹ - con với cháu bé do bà Hồ Ngọc H sinh ra ngày 22/02/2021 tại Bệnh viện Từ Dũ Thành phố Hồ Chí Minh”. Do đó có đủ cơ sở xác định cháu bé do bà Hồ Ngọc H sinh vào lúc 05 giờ 30 phút ngày 22/02/2021 tại bệnh viện Từ Dũ, theo giấy chứng sinh số 0000190 có quan hệ huyết thống cha con với ông Trần Xuân T.
Từ những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Xuân T.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật.
Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn được miễn nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Xuân T đối với bị đơn bà Hồ Ngọc H về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con”.
Tuyên bố ông Trần Xuân T là cha ruột của cháu bé do bà Hồ Ngọc H sinh vào lúc 05 giờ 30 phút ngày 22/02/2021, theo giấy chứng sinh số 0000190 tại bệnh viện Từ Dũ, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn được miễn nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; - Các đương sự; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Quang Ngọc Nhân |