- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị S và anh Nguyễn Đức H là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮKNÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HNGĐ-ST Ngày 29/4/2022 V/v không công nhận quan hệ hôn nhân là vợ chồng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tiến Tịnh
2. Ông Nguyễn Duy Chấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 28/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2022 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Hà Thị S (Vắng mặt), sinh năm 1972.
- Bị đơn: anh Nguyễn Đức H (Vắng mặt), sinh năm 1976.
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, chị Hà Thị S (nguyên đơn) trình bày: Chị Hà Thị S và anh Nguyễn Đức H chung sống với nhau từ năm 2001 nhưng không đăng ký kết hôn (đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn), cũng không tổ chức đám cưới mà chỉ chung sống với nhau từ năm 2001. Khi mới chung sống với nhau thì ở tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ sau đó chuyển về sinh sống tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ. Việc chung sống với nhau là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc.
Trong thời gian chung sống với nhau, chị S và anh H có 03 con chung: cháu Nguyễn Thị O, sinh ngày 28/02/2003; cháu Nguyễn Đức C, sinh ngày 03/5/2006 và cháu Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 04/6/2007. Hiện cả ba cháu đang ở với chị Hà Thị S. Về tài sản: vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai cả. Chị S hiện có chỗ ở ổn định, hợp pháp và có thu nhập ổn định đủ để nuôi các con.
Thời gian đầu mới chung sống thì hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn; chị S và anh H luôn bất đồng quan điểm, lối sống, tính cách khác nhau, hay cãi nhau anh, không quan tâm đến nhau nữa, việc ai người đó làm. Hiện nay chị S và anh H đã sống ly thân với nhau. Do chị S và anh H không còn quan tâm đến nhau nữa, không còn tình cảm với nhau nên chị S đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức H.
Về quan hệ hôn nhân: chị Hà Thị S đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Đức H.
Về con chung: Chị Hà Thị S xin được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức C, sinh ngày 03/5/2006 và cháu Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 04/6/2007 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Còn cháu Nguyễn Thị O, sinh ngày 28/02/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Chị S và anh H không có tài sản gì và không nợ ai cả nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Theo lời trình bày của anh Nguyễn Đức H (bị đơn) trong quá trình làm việc tại Tòa án:
Về quan hệ hôn nhân: thời điểm chung sống với nhau, việc không đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, thời điểm ly thân thống nhất với lời trình bày của chị Hà Thị S.
Về con chung: thống nhất với lời trình bày của chị Hà Thị S.
Về tài sản chung, nợ chung: không có tài sản gì, không nợ ai.
Quan điểm, nguyện vọng về giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: đồng ý ly hôn với chị Hà Thị S
Về nuôi con chung: Đồng ý giao cháu Nguyễn Đức C, sinh ngày 03/5/2006 và cháu Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 04/6/2007 cho chị Hà Thị S chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Còn cháu Nguyễn Thị O, sinh ngày 28/02/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không nợ ai và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà xác định việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào quy định tại Điều 53, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị S và anh Nguyễn Đức H là vợ chồng.
Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Đức C, sinh ngày 03/5/2006 và cháu Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 04/6/2007 cho chị Hà Thị S chăm sóc cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung, không nợ ai và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: chị Hà Thị S (nguyên đơn) phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Hà Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Đức H và được quyền nuôi con, chị Hà Thị S và anh Nguyễn Đức H chung sống với nhau từ năm 2001 nhưng không đăng ký kết hôn nên đây là tranh chấp về ly hôn và nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 và khoản 7 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn (anh Nguyễn Đức H) có đăng ký hộ khẩu và hiện đang sinh sống tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 và khoản 7 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.3. Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Hà Thị S (nguyên đơn) và anh Nguyễn Đức H (bị đơn) đều vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, chị Hà Thị S và anh Nguyễn Đức H đều có đơn xin xét xử vắng mặt gửi đến Tòa án. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
2. Về nội dung vụ án:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị S và anh Nguyễn Đức H chung sống với nhau từ năm 2001 nhưng không đăng ký kết hôn (đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn), mặc dù có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn, cũng không tổ chức đám cưới mà chỉ chung sống với nhau từ năm 2001. Thời gian đầu mới chung sống với nhau thì hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn; chị S và anh H luôn bất đồng quan điểm, lối sống, tính cách khác nhau, hay cãi nhau anh, không quan tâm đến nhau nữa, việc ai người đó làm. Hiện nay chị S và anh H đã sống ly thân với nhau.
Theo Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện két hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị S và anh Nguyễn Đức H không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
Tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này.”.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ vào khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị S và anh Nguyễn Đức H là vợ chồng.
2.2 Về nuôi con chung: Chị Hà Thị S có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức C, sinh ngày 03/5/2006 và cháu Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 04/6/2007 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Còn cháu Nguyễn Thị O, sinh ngày 28/02/2003 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của các con chưa thành niên.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì thì Tòa án quyết định giao con cho một bên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/02/2022 thì cháu Nguyễn Đức C và cháu Nguyễn Thị Hoài T đều có nguyện vọng được ở cùng với chị Hà Thị S. Tại phiên hòa giải ngày 01/3/2022, chị Hà Thị S và anh Nguyễn Đức H đều thống nhất giao cháu Nguyễn Đức C và cháu Nguyễn Thị Hoài T cho chị Hà Thị S chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi nên cần ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự và nguyện vọng của cháu C, cháu T. Do đó, cần giao cháu Nguyễn Đức C và cháu Nguyễn Thị Hoài T cho chị Hà Thị S chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.
2.3 Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hà Thị S và anh Nguyễn Đức H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
2.4 Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hà Thị S và anh Nguyễn Đức H không có tài sản gì chung; trong thời gian chung sống, không vay mượn của ai hay cho ai vay mượn tài sản gì và các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Hà Thị S phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 và khoản 7 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228; Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 58 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị S và anh Nguyễn Đức H là vợ chồng.
2. Về nuôi con chung: Giao Nguyễn Đức C, sinh ngày 03/5/2006 và cháu Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 04/6/2007 cho chị Hà Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc, giáo dục con chung, người trực tiếp nuôi con không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục các cháu.
Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng theo quy định các Điều 84; Điều 110; Điều 117 và Điều 119 Luật Hôn nhân gia đình 2014.
4. Về chia tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Chị Hà Thị S phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000742 ngày 09/02/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đ.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Mil (02); - Chi Cục THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Trung Dũng |