vanban.org

Bản án 15/2022/DSST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn S bà Đỗ Thị H yêu cầu bà Phạm Thị Thảo N trả lại diện tích đất lấn chiếm là 56 m2.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm : Ông Lê Văn S bà Đỗ Thị H phải chịu số tiền 300.000đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng theo biên lai thu số 0001293 ngày 09/10/2020. 3/ Về chi phí tố tụng : Ông Lê văn S bà Đỗ Thị H phải chịu số tiền 3.000.000 đồng và chi phí lấy sơ đồ đo đạc 638.625 đồng được khấu trừ v…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn S bà Đỗ Thị H yêu cầu bà Phạm Thị Thảo N trả lại diện tích đất lấn chiếm là 56 m2.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Luật Đất đai; Điều 13 Luật Đất đai; Điều 14 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số : 15/2022/DSST
Ngày 08/4/2022
(V/việc tranh chấp
Qền sử dụng đất)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn THnh Vui

Ông : Hoàng Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Ông : Nguyễn Bá Anh Hùng, thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Cao Thanh Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 08/4/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 124/2020/DSST ngày 09 tháng 10 năm 2020. Về việc “ Tranh chấp Qền sử dụng đất” theo Qết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXX-ST ngày 11 tháng 3 năm 2022, Qết định hoãn phiên tòa số 07/2022/QĐHPT ngày 28/3/2022 giữa : N đơn: Ông Lê Văn S, sinh năm 1976 (có mặt)

Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1973 (có mặt) Cùng địa chỉ : số 39, đường 28, Khu phố 5, Phường An phú, THnh Phố Thủ Đức, TP . Hồ Chí Minh. Bị đơn: Bà Phạm Thị Thảo N, sinh năm 1994 Địa chỉ : Khu Phố Ninh Phước - TT . Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước

Người được bà Phạm Thị Thảo N ủy Qền. Ông Phạm Đức H, sinh năm 1967 (có mặt) Địa chỉ : Khu Phố Ninh Phước - TT . Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước

Người có Qền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1957 (có đơn xin vắng mặt), bà Nguyễn

thị M, sinh năm 1959 (có đơn xin vắng mặt).

1

Cùng địa chỉ: Khu phố Ninh THnh, TT. Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước

- Bà Lê Thị G, sinh năm: 1930 (có đơn xin vắng mặt) HKTT: Ấp 2, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

- Sở Tài N môi trường tỉnh Bình phước .

Người đại diện theo ủy Qền ông Trần Xuân D – Chức vụ - Phó Giám đốc

Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Lộc Ninh (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/9/2020, bản tự khai và tại phiên tòa N đơn ông Lê Văn Sỹ trình bày:

Vào năm 2017 vợ chồng tôi có mua thửa đất của ông Nguyễn Minh Q đất tọa lạc tại ấp 2, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước, có chiều ngang 19,7 mét, sau khi tôi đã đi coi thửa đất trên cùng với ông Q, thì ông Q có chỉ ranh đất rõ ràng nên không có vấn đề gì, vợ chồng tôi đã được tách sổ ngày 19/12/2017 nhưng không tiến Hnh đo đạc lại thửa đất, sau này vợ chồng tôi có ủy Qền cho ông Ngư, sau khi ông Ngư đo đất thấy thửa đất của tôi thiếu 1 mét, nên hiện nay tôi làm đơn yêu cầu bà Phạm Thị Thảo N trả lại diện tích đất theo sơ đồ đo đạc ngày 28/01/2021 thì đất của tôi thiếu 56 m2, hiện nay tôi thượng tôn pháp luật nên tôi đề nghị Tòa án giải Qết cô Thảo phải trả cho tôi 56m2 .

N đơn bà Đỗ Thị H thống nhất ý kiến của ông S trình bày .

Bị đơn ông Phạm Đức H là người được ủy Qền trình bày:

Thửa đất này thực tế là của tôi bỏ tiền ra mua đất của ông Hốc năm 1988 - 1989 nhưng tôi để cho mẹ tôi đứng tên, khi mua thửa đất của ông Lê Văn Hốc, đất đã có giấy chứng nhận Qền sử dụng đất (QSDĐ) chiều rộng thửa đất là 20 mét, chiều dài 175 mét, đến năm 1998 thì ông Hốc mới làm sổ cho mẹ tôi đứng tên, khi ông Hốc bán cho mẹ tôi thì đo thực tế là 18 mét chiều rộng, chiều dài 175 mét, phần ranh đất của gia đình tôi và gia đình ông Nguyễn Minh Q, phía trước tôi xây tường bằng gạch dài khoảng 6 mét, phía sau chôn cọc bằng nọc tiêu và kéo dây kẽm gai, ông Q xây tường bằng gạch phía sau, hiện nay đã đổ, tôi xây căn nH giáp ranh với đất của ông Q từ năm 1995, phía sau căn nH là tôi xây bao quanh bằng đá, gia đình tôi sống ổn định từ khi mua đất cho đến nay, năm 2017 khi đổi sổ NH nước không đo thực tế, mà ra sổ đỏ cho gia đình tôi chiều rộng thửa đất còn 15,6 mét là không chính xác, ông S bà H mới mua đất của ông Q năm 2017 không đi đo lại thực tế mà chỉ căn cứ vào sổ đỏ của ông Q có sẵn sang sổ, sau đó làm thủ tục sang tên, hiện nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông S bà H tôi không đồng ý.

Người có Qền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh Q bà Nguyễn Thị M trình bày .

Vợ chồng ông Nguyễn Minh Q có thửa đất tọa lạc tại ấp 2, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước, nguồn gốc thửa đất do vợ chồng ông mua từ

2

năm 2000, đến năm 2010 mới làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ, đến năm 2017 thì vợ chồng ông sang nhượng lại cho vợ chồng ông Lê Văn S, khi làm thủ tục sang tên cho vợ chồng ông S thì không đo đạc lại mà sang nhượng theo giấy chứng nhận QSDĐ đã được cấp.

Về phần ranh hiện nay thì phía ranh đất giáp bên bà Phượng thì đã xây tường bằng gạch cố định, còn phần ranh đất phía giáp hộ bà G thì phía trước xây tường gạch cố định, phía sau thì chôn Hng rào bằng nọc tiêu kéo dây kẽm gai, ông Nguyễn Minh Q xác định phần ranh đất giáp hộ bà G cố định không xảy ra tranh chấp, nếu vợ chồng ông còn ở thửa đất trên thì không bao giờ xảy ra tranh chấp với hộ bà G, khi ông sang nhượng cho ông S thì ông Q đã chỉ ranh giới rõ ràng, sang N thửa theo sổ nH nước cấp chứ không đo lại.

Người có Qền lợi nghĩa vụ liên qua bà Lê Thị G không có ý kiến và có đơn xin giải Qết vắng mặt.

Sở tài N môi trường tỉnh Bình phước người được ủy Qền ông Trần Xuân D có đơn xin giải Qết vắng mặt.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên Tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải Qết vụ án đã thực hiện đúng Q định tại 48 BLTTDS như: Thẩm Qền thụ lý đúng Q định Điều 30, Điều 35 Điều BLTTDS; Xác định đúng tư các người tham gia tố tụng theo Q định tại Điều 68 BLTTDS; xác minh, ủy thác thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng Q định tại các điều từ 93 đến 97 BLTTDS; Trình tự thụ lý, việc gửi, tống đạt và niêm yết các thủ tục tố tụng cho Viện kiểm sát đương sự đúng Q định tại Điều 195, Điều 196, Điều 170, Điều 177, Điều 179 BLTTDS.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Thực hiện đúng Q định và đầy đủ trình tự thủ tục của phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo việc hỏi tại phiên tòa và cho đương sự được Qền phát biểu tranh luận.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào giấy chứng nhận QSDĐ của vợ chồng ông Lê Văn S, bà Đỗ Thị H và bà Phạm Thị Thảo N, cũng như tài liệu chứng cứ lời trình bày của các đương sự, tại phiên tòa ông S trình bày không xác định được người lấn chiếm đất, không xác định được vị trí hiện trạng thửa đất bị lấn chiếm, phần đất bị lấn chiếm khi nào, ông S không cung cấp được giấy tờ, chứng cứ nào thể hiện việc bà Thảo lấn chiếm đất, cho nên không có sự lấn chiếm đất xảy ra, việc khởi kiện của ông S bà H là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn.

Đối với giấy chứng nhận QSDĐ của ông Lê Văn S bà Đỗ Thị H và giấy chứng nhận QSDĐ của bà Phạm Thị Thảo N cấp có thẩm Qền cấp giấy chứng nhận QSDĐ không đúng với hiện trạng thửa đất, các đương sự liên hệ cấp có thẩm Qền điều chỉnh giấy chứng nhận QSDĐ cho phù hợp với hiện trạng thửa đất.

3

Về án phí N đơn phải chiu án phí theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng :

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của N đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp Qền sử dụng đất theo Q định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm Qền giải Qết: Bị đơn Phạm Thị Thảo N có địa chỉ Khu phố Ninh Phước. TT. Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước, thửa đất tranh chấp tọa lạc tại ấp 2, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước thuộc thẩm Qền giải Qết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước theo Q định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng .

Về nội dung:

Đối với yêu cầu của ông Lê Văn S bà Đỗ Thị H yêu cầu bà Phạm Thị Thảo N trả lại diện tích đất 56 m2 Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về chứng cứ phía N đơn cung cấp: - 01 bộ hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ cấp ngày 15/5/1993 cho hộ ông ông Lê Văn Hốc, 01 bộ hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ cấp ngày 28/6/1998 cho hộ bà Lê Thị G, 01 bộ hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ cấp ngày 19/12/2017 cho ông Lê Văn S, bà Đỗ Thị H, 01 bộ hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 24/12/2018 cấp cho ông S bà H, 01 bộ hồ sơ giữa bà Lê Thị G tặng cho Phạm Thị Thảo N, 01 bộ hồ sơ bà N bán cho ông Trần Văn Thủy.

Bị đơn không cung cấp chứng cứ.

Tòa án thu thập chứng cứ 01 công văn số 1091 ngày 05/5/2021 của Sở tài N môi trường tỉnh Bình phước và 01 sơ đồ đo đạc ngày 28/01/2021.

Xét nguồn gốc thửa đất của ông Lê Văn Hốc tại thửa số 26c, diện tích đất 3.600 m2 cấp ngày 05/10/1993 có chiều rộng thửa đất là 20 mét, đến năm 1998 bà Lê Thị G được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, tại thửa số 26c, diện tích 3150m2, bà G mua lại khi làm thủ tục tách sổ thì chiều rộng thửa đất còn lại 18 mét, ông Phạm Đức H là con của bà G đã xây 01 căn nH cấp 4, giáp với thửa đất của ông Nguyễn Minh Q, về ranh đất giáp ông Nguyễn Minh Q thì phía trước ông H xây tường gạch cố định dài khoảng 6 mét, phía sau thì chôn nọc tiêu kéo dây kẽm gai.

Phần trong thửa đất phía sau căn nH cấp 4 của bà G đã xây tường bằng đá cố định, ranh đất chôn nọc tiêu, kéo dây kẽm gai, giáp với đất của hộ ông Nguyễn Minh Q là 20 cm, tại lời khai của ông Nguyễn Minh Q xác định phần ranh đất của gia đình ông giáp với phần ranh đất của gia đình bà G là ổn định từ khi ông Q mua đất về ở và không có tranh chấp với gia đình bà G.

4

Như vậy sổ đất của bà G cấp năm 1998 có chiều rộng thửa đất là 18 mét là hoàn toàn phù hợp với hiện trạng thửa đất .

Năm 2017 việc đổi giấy chứng nhận QSDĐ của hộ bà G có chiều rộng thửa đất còn 15,6 mét là hoàn toàn không chính xác; sau này bà G làm thủ tục tặng cho cháu nội Phạm Thị Thảo N, bà N bán một phần thửa đất cho ông Trần Văn Thủy . Hiện nay thửa đất của bà Phạm Thị Thảo N thể hiện trong giấy chứng nhận QSDĐ chỉ còn chiều rộng thửa đất là 8,6 mét, nhưng thực tế hiện trạng chiều rộng thửa đất là 11 mét. Tại phiên tòa ông H khẳng định khi đo đạc chính Q cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ là không đo đạc lại, phía ranh đất của gia đình ông giáp với đất ông Nguyễn Minh Q là cố định từ khi ông mua đất từ năm 1988 – 1989, không có sự lấn chiếm nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của N đơn.

Hội đồng xét xử thấy rằng vì trước đây thửa đất mua của ông Hốc chiều rộng thửa đất là 20 mét, năm 1998 bà G làm sổ chỉ còn chiều rộng thửa đất là 18 mét, sau đó gia đình bà G xây nH cấp 4 cố định, ranh đất giáp đất ông Q hai gia đình thống nhất phía trước xây tường bằng gạch cố định dài khoảng 6 mét, phía sau chôn nọc tiêu, kéo kẽm gai, hai gia đình ở ổn định không có tranh chấp. Năm 2017 cấp đổi giấy chứng nhận không đo đạc thực tế, mất đi 2,4 mét không đúng hiện trạng sự dụng đất của bà G.

Đối với thửa đất của ông Nguyễn Minh Q bán cho vợ chồng ông S năm 2017, không đo đạc thực tế tại thời điểm sang nhượng mà chỉ chuyển nhượng theo giấy chứng nhận ông Q đã được cấp là không phù hợp với hiện trạng thửa đất.

Nhưng so với giấy chứng nhận QSDĐ của G cấp năm 1998, chiều rộng thửa đất là 18 mét là phù hợp, vì căn nH cấp 4 của bà G xây cố định, Hng rào phía trước xây bằng tường gạch cố định, phía sau chôn nọc tiêu, kéo kẽm gai ổn định, hai gia đình ông Q và bà G ở ổn định không có tranh chấp.

Tại phiên tòa ông S bà H đều thống nhất khi mua thửa đất của ông Nguyễn Minh Q có chỉ ranh giới tứ cận thửa đất đúng như hiện trạng thửa đất hiện nay, phía ranh đất giáp hộ bà G (hiện nay bà G cho bà Thảo) ranh đất rõ ràng, không thay đổi hiện trạng, ông S không xác định được vị trí lấn đất ở chỗ nào, không biết thời gian nào thửa đất bị lấn, không biết ai lấn đất, không có tài liệu chứng nào thể hiện việc bà Thảo lấn chiếm đất, khi mua thửa đất của ông Q không đi đo đạc lại mà chỉ sang nhượng theo giấy chứng nhận QSDĐ của ông Q đã được cấp.

Căn cứ giấy chứng nhận QSDĐ số CH01148 cấp ngày 24/12/2018 thì khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận Qền sử dụng đất tại thửa 718, tờ bản đồ 22 diện tích 1.212.0 m2 có ký xác nhận ranh giới, mốc giới đất liền kề (bút lục 101 và 105) rõ ràng, như vậy thể hiện ranh giới, mốc giới rõ ràng cố định phù hợp với hiện trạng thửa đất, không có sự lấn chiếm.

Tại công văn số số 1091 ngày 05/5/2021 của Sở tài N môi trường tỉnh Bình phước xác định; Đối với ông Lê Văn Hốc sang nhượng thửa đất cho bà Lê Thị G

5

năm 1998 đo đạc chiều rộng 18 mét, chiều dài 175 mét, diện tích 3.150 m2 nhưng đến năm 2017 bà G đổi sổ thì chiều rộng thửa đất còn 15,6 mét, chiều dài 187,3 mét, diện tích 3.427 m2 (mất đi 2,4m chiều rộng) N nhân tăng, giảm diện tích ranh giới thay đổi là do cấp đổi theo số liệu đo đạc chính Q là chưa phù hợp với hiện trạng thửa đất.

Đối với giấy chứng nhận QSDĐ vào sổ số cấp giấy chứng nhận CS00561 do Sở tài N Môi trường tỉnh Bình phước cấp ngày 19/12/2017 cho ông Lê Văn S, bà Đỗ Thị H, giấy chứng nhận QSDĐ vào sổ số cấp giấy chứng nhận CS 00234 do Sở tài N Môi trường tỉnh Bình phước cấp ngày 09/3/2017 cho bà Phạm Thị Thảo N cấp không đúng hiện trạng thửa đất các đương sự liên hệ cấp có thẩm Qền để được cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ cho phù hợp với hiện trạng thửa đất.

Từ nhận định nêu trên ;

Yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn S bà Đỗ Thị H không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản số tiền 3.000.000 đồng và chi phí lấy sơ đồ đo đạc 638.625 đồng ông S bà H phải chịu.

Về án phí: Nghị Qết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Q định về án phí, lệ phí : Do yêu cầu khởi kiện của N đơn không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên phải chịu án phí theo luật định .

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 192, Điều 256, Điều 265 Bộ luật dân sự năm 2005

Điều 166, Điều 175, Điều 189 Bộ luật dân sự 2015

Điều 1, Điều 3, Điều 4, Điều 6, Điều 13, Điều 73 và Điều 79 Luật đất đai năm 1993 .

Điều 3, Điều 4, Điều 5, Điều 6 , Điều 7, Điều 9, Điều 15, Điều 31, Điều 34, 36, Điều 37, Điều 71, Điều 83, Điều 105, Điều 107, Điều 113, Điều 135, Điều 136 Luật đất đai năm 2003.

Điều 4, Điều 5, điều 6, Điều 7, Điều 15, Điều 17, Điều 97, Điều 98, Điều 99, Điều 100, Điều 125, Điều 126, Điều 129, Điều 130, Điều 131, Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013.

Điều 14, khoản 4 Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 Q định về án phí, lệ phí; khoản 2 Điều 26 Nghị Qết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

6

1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn S bà Đỗ Thị H yêu cầu bà Phạm Thị Thảo N trả lại diện tích đất lấn chiếm là 56 m2.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm : Ông Lê Văn S bà Đỗ Thị H phải chịu số tiền 300.000đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng theo biên lai thu số 0001293 ngày 09/10/2020.

3/ Về chi phí tố tụng : Ông Lê văn S bà Đỗ Thị H phải chịu số tiền 3.000.000 đồng và chi phí lấy sơ đồ đo đạc 638.625 đồng được khấu trừ vào số tiền mà vợ chồng ông S bà H đã nộp.

4/ Trường hợp bản án được thi Hnh theo Q định tại Điều 2 Luật Thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có Qền thỏa thuận thi Hnh án, Qền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo Q định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo Q định tại Điều 30 Luật thi Hnh án dân sự.

5/ Về Qền kháng cáo: N đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có Qền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có Qền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có Qền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ