vanban.org

Bản án 15/2022/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 20/01/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ch p nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn M.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2021/DS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương, như sau: 1. Ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị L đối với bị đơn ông Phạm Văn M về việc “Tranh ch p quyền sử dụng đ t”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Phúc thẩm Bản án 138/2020/DS-PT Tuyên án 23/06/2020
Phúc thẩm — đang xem Bản án 15/2022/DS-PT Tuyên án 20/01/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Mai Thị L - Phạm Văn M"
  • Tòa quyết gì? Ch p nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 50 Luật Đ t đai; Điều 100 Luật Đ t đai; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/DS-PT
Ngày 12-01-2022
V/v tranh ch p quyền sử dụng đ t

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng

Ông Bùi Văn Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 tháng 12 năm 2021, ngày 05 và 12 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 143/2021/TLPT-DS ngày 24/5/2021 về việc “Tranh ch p quyền sử dụng đ t”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2021/DS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 185/2021/QĐPT-DS, ngày 16 tháng 4 năm 2021, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 63/2021/QĐPT-DS ngày 10 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mai Thị L, sinh năm 1953; địa chỉ: Số 17/6C khu phố T, phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ T n Đ, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 118/44 đường B, khu phố Đ, phường T2, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 08/3/2019).

- Bị đơn: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1956; địa chỉ: Số 187A khu phố 1, phường T1, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, Văn phòng Luật sư C, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Mai Thị L, sinh năm 1953;

2. Ông Tống Văn B, sinh năm 1980;

3. Bà Tống Thị Kim N, sinh năm 1982;

4. Ông Tống Kim Đ1, sinh năm 1985;

5. Ông Tống Thanh T1, sinh năm 1987;

6. Ông Tống Thành T2, sinh năm 1990;

7. Bà Tống Hoàng H, sinh năm 1992;

Trú cùng địa chỉ: Số 17/6C khu phố T, phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bà Mai Thị L, ông Tống Văn B, bà Tống Thị Kim N, ông Tống Kim Đ1, ông Tống Thanh T1, ông Tống Thanh T2, bà Tống Hoàng H: Ông Võ T n Đ, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 118/44 đường B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 08/3/2019).

8. Bà Phạm Thị G, sinh năm 1946; địa chỉ: Số 16/7 khu phố T, phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bà G: Ông Phạm Văn M; địa chỉ: Số 187A, khu phố 1, phường T1, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 04/7/2019).

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Văn M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm:

[1] Nguyên đơn bà Mai Thị L và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Võ Tấn Đ thống nhất trình bày:

Bà Mai Thị L khởi kiện tranh ch p quyền sử dụng đ t với ông M có diện tích 1.717,9m2 (theo kết quả đo đạc thực tế) thuộc các thửa đ t số 223, 224, 293 và 1093 tờ bản đồ B3, tọa lạc tại khu phố T, phường T1, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương. Phần đ t tranh ch p là một phần trong tổng diện tích đ t là 10.200m2, thửa số 0016m, thuộc gi y chứng khoán số 326-01-11 do Trưởng ty điền địa Biên Hòa c p ngày 17/03/1971 cho bà Quảng Thị M1 (mẹ chồng bà L), đ t tọa lạc xã T, huyện T, tỉnh Biên Hòa (nay là khu phố T, phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương). Bà M1 trực tiếp quản lý và sử dụng đến năm 1975 thì cho ông Tống Văn H1 (là em chồng) một phần đ t gò để trồng khoai, trồng đậu. Phần diện tích đ t còn lại bà M1 sử dụng, ông V cùng quản lý sử dụng với bà M1. Đến năm 1991, bà M1 để lại cho ông Tống Văn V và bà L. Đến năm 1992, bà M1 chết. Năm 2004, ông Tống Văn V lập hồ sơ hợp thức hóa và đã được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 2295 QSDĐ/HTH-TB ngày 10/5/2004, số thửa 223, 224, 293 có diện tích là 1907m2, tờ bản đồ B3, tọa lạc tại p T, xã T1, huyện (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương.

Năm 1996, ông Tống Văn H1 đã tự đi đăng ký kê khai và đã được c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 129 có diện tích là 7.461m2. Đến năm 2000, bà Phạm Thị T2 (vợ ông Tống Văn H1) c p đổi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 954 QSDĐ/CQ-TB ngày 24/4/2004 có diện tích 8.275,8m2, trong gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t này có 03 thửa đ t mà bà L và ông Tống Văn V đang sử dụng là 223, 224, 293. Đến năm 2012, ông M làm thủ tục phân chia di sản thừa kế của bà T2 để lại và được c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 984568 và số 984569 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) D c p ngày 22/3/2012 trong đó có 03 thửa 223; 224; 293. Việc ông H1 đi kê khai đăng ký và được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, ông V và bà L không biết. Vì vậy, bà L đã khởi kiện yêu cầu hủy gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t c p cho bà T2, ông M. Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 221/2018/HC-PT của Tòa án nhân dân c p cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà L hủy toàn bộ gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đã c p cho bà Phạm Thị T2 và ông Phạm Văn M do không chứng minh được nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với phần đ t đang tranh ch p là thửa 223, 224, 293, đồng thời tuyên hủy gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đã c p cho ông Tống Văn V do c p trùng. Nay bà L yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D công nhận cho bà L và các đồng thừa kế của ông V được quyền sử dụng diện tích 1.717,9m2 thuộc thửa đ t số 223, 224, 293 và 1093 tờ bản đồ B3, tọa lạc khu phố T, phường T1, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương.

[2] Bị đơn ông Phạm Văn M trình bày:

Nguồn gốc 03 thửa đ t đang tranh ch p là một phần trong diện tích đ t do cha ông M là ông Tống Văn H1 đăng ký sử dụng, được U ban nhân dân huyện T1 c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 129/GCNSB ngày 15/10/1991 sổ tr ng), trong đó có các thửa đ t số 573, 374 và 387. Năm 1992, ông H1 qua đời. Năm 2000, bà T2 đã kê khai, đăng ký quyền sử dụng đ t, Ủy ban nhân dân huyện D An đã c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số K792023 ngày 24/4/2000 cho bà T2 sổ đ ) với diện tích đ t 8.275,8m2, trong đó có các thửa đ t số 293, 223 và 224.

Năm 2009, bà T2 qua đời, ông M thừa kế quyền sử dụng đ t của bà T2, 03 thửa đ t số 293, 223 và 224 thể hiện trong gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của bà T2 đã được tách thành 02 thửa: thửa số 1229 diện tích 1.115m2, tờ bản đồ số B3.1, theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 984568 ngày 22/3/2012 và thửa đ t số 1230, diện tích 721m2, tờ bản đồ số B3.1, theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 984569 ngày 22/3/2014 c p cho ông Phạm Văn M.

Năm 1991, ông Tống Văn V thuê của ông H1 03 thửa đ t số 573, 374 và 387 theo sổ tr ng) để sử dụng. Ông V có trả cho ông H1 mỗi năm 03 dạ lúa. Việc cho thuê đ t không lập văn bản, không gi y tờ gì. Việc trả lúa hàng năm không có gi y tờ tài liệu gì chứng minh. Sau khi bà T2 qua đời, ông M đòi đ t nhưng ông V không trả. Hiện nay, ông V đã bệnh và qua đời, bà L khởi kiện yêu cầu công nhận cho bà L quyền sử dụng đ t đối với thửa đ t 223, 224, 293, 1093 thì ông M không Đ1 ý.

[4] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị G do ông Phạm Văn M đại diện trình bày: Thống nh t lời trình bày của bị đơn ông Phạm Văn M.

[5] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tống Văn B, bà Tống Thị Kim N, ông Tống Kim Đ1, ông Tống Thanh T1, ông Tống Thanh T2, ông Tống Hoàng H do ông Võ Tấn Đ trình bày: Thống nh t lời trình bày của nguyên đơn.

[6] Tại Công văn số 1942/UBND-NC ngày 15/8/2019 của Ủy ban nhân dân thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương có nội dung:

Theo sổ mục kê năm 1995 của phường T1 thể hiện thửa đ t số 223, 224, 293 tờ bản đồ số B3 do bà Phạm Thị T2 kê khai đăng ký và đã được Ủy ban nhân dân huyện D c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 594QSDĐ/CQ.TB ngày 24/4/2000. Theo sổ mục kê năm 2005 của phường T1 thì thửa đ t số 223, 224 do ông Tống Văn B kê khai đăng ký, thửa đ t số 293, 1093, tờ bản đồ số B3 do ông Tống Văn V kê khai đăng ký. Ngày 10/5/2004, Ủy ban nhân dân huyện D c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 2295 QSDĐ/HTH-TB cho ông Tống Văn V. Thực hiện Bản án số 221/2018/HC-PT ngày 26/6/2018 của Tòa án nhân dân c p cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23/01/2019, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đ t đai thành phố D đã thực hiện thủ tục thu hồi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CH 03503 c p ngày 22/3/2012 cho ông Phạm Văn M. Như vậy, diện tích đ t 1.717,9m2 thuộc thửa đ t số 223, 224, 293, 1093 tờ bản đồ số B3 hiện nay chưa c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho tổ chức, cá nhân nào. Căn cứ Quyết định số 3847/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương thì phần đ t trên thuộc quy hoạch đ t ở và đ t giao thông. Sau khi có kết quả giải quyết cuối cùng của các cơ quan có thẩm quyền đối với phần đ t này, Ủy ban nhân dân thành phố D sẽ xem xét c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t theo quy định của pháp luật về đ t đai.

[7] Biên bản xác minh ngày 04/10/2019 và ngày 25/01/2021 của Ủy ban nhân dân phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương có nội dung:

Theo sổ mục kê ruộng đ t và tờ bản đồ số 01 (thành lập theo Chỉ thị 299) tại trang 14 và 21, các thửa đ t số 374, 382, 572 ghi tên Tập đoàn T3. Theo sổ địa chính đ t lập năm 1999, quyển số 02 - T, trang số 71 thể hiện bà Phạm Thị T2 – chủ sử dụng đ t các thửa 223, 224, 293. Theo sổ mục kê đ t lập năm 1999, các thửa đ t 223, 224, 293 thể hiện tên bà Phạm Thị T2. Việc kê khai đăng ký của bà Phạm Thị T2 để được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t theo diện đại trà. Đối với việc kê khai năm 2005, thống nh t nội dung trả lời của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đ t đai. Các thửa đ t số 223, 224, 293, 1903 do gia đình bà Mai Thị L là người quản lý, sử dụng. Các thửa đ t số 223, 224, 293, 1093 tờ bản đồ số B3 (bản đồ năm 1985) trước năm 1991 do Tập đoàn T3 I quản lý khi tập đoàn chưa tan rã, còn ai trực tiếp sử dụng thì Ủy ban không rõ; năm 1971 bà Quảng Thị M1 (B) được Trưởng ty điền địa Biên Hòa c p Gi y chứng khoán số 326-01-11 với diện tích 10.200m2 đ t tại xã T, huyện T, tỉnh Biên Hòa (nay là khu phố T, phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương). Tuy nhiên, trên gi y chứng khoán không thể hiện sơ đồ thửa đ t 10.200m2 và Ủy ban nhân dân phường cũng không lưu trữ hồ sơ c p gi y chứng khoán nên không xác định được diện tích đ t các đương sự đang tranh ch p có nằm trong diện tích 10.200m2 mà bà M1 (B) được c p theo gi y chứng khoán hay không. Qua rà soát sổ đăng ký ruộng đ t năm 1985 lưu trữ tại Ủy ban nhân dân phường T1 thì không th y bà Quảng Thị M1 (B) đăng ký kê khai thửa đ t nào tại xã T1 nay là phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương).

[8] Công văn số 25/CCT-LPI ngày 06/01/2021 và Công văn số 544/CCT-LP1 ngày 18/3/2021 của Chi cục Thuế thành phố D trả lời về việc xác minh thông tin nộp thuế của đương sự cho Tòa án như sau:

Qua các biên lai đã thu thuế từ năm 1999 trở về trước thì việc kê khai, phát hành thông báo thuế, thu thuế nông nghiệp và thuế nhà đ t là do UBND xã, phường, thị tr n thực hiện. Từ năm 1999 đến nay, huyện D được tách ra từ huyện Thuận An, do đó Chi cục Thuế D không còn căn cứ để trả lời, mặt khác trên biên lai và thông báo thuế không ghi số thửa, tờ bản đồ nên Chi cục Thuế cũng không thể đối chiếu xác minh theo yêu cầu của Tòa án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2019/DS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D đã tuyên xử:

Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị L đối với bị đơn ông Phạm Văn M về việc tranh ch p quyền sử dụng đ t.

Bà Mai Thị L, ông Tống Văn B, bà Tống Thị Kim N, ông Tống Kim Đ1, ông Tống Thanh T1, ông Tống Thanh T2 và bà Tống Hoàng H được quyền sử dụng diện tích đ t 1.717,9m2 thuộc thửa đ t số 223, 224, 293 và 1093 tờ bản đồ B3, tọa lạc tại khu phố T, phường T1, thị xã D, tỉnh Bình Dương có bản vẽ kèm theo).

Bà Mai Thị L , ông Tống Văn B, bà Tống Thị Kim N, ông Tống Kim Đ1, ông Tống Thanh T1, ông Tống Thanh T2 và bà Tống Hoàng H được quyền kê khai đăng ký để được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 03/12/2019, bị đơn ông Phạm Văn M có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án c p phúc thẩm sửa án theo hướng không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương kháng nghị bản án sơ thẩm theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/2019/QĐKNPT-VKS-DS ngày 25/12/2019 đề nghị Tòa án c p phúc thẩm xét xử theo hướng hủy bản án sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 138/2020/DS-PT ngày 23 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

1. Ch p nhận kháng nghị theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/2019/QĐKNPT-VKS-DS ngày 25/12/2019 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.

2. Ch p nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn M.

3. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2019/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương.

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố D giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2021/DS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

1. Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị L đối với bị đơn ông Phạm Văn M về việc tranh ch p quyền sử dụng đ t.

Bà Mai Thị L, ông Tống Văn B, bà Tống Thị Kim N, ông Tống Kim Đ1, ông Tống Thanh T1, ông Tống Thành T2 và bà Tống Hoàng H được quyền sử dụng diện tích đ t 1.717,9m2 thuộc các thửa đ t số 223, 224, 293 và 1093 tờ bản đồ B3, tọa lạc tại khu phố T, phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Bà Mai Thị L, ông Tống Văn B, bà Tống Thị Kim N, ông Tống Kim Đ1, ông Tống Thanh T1, ông Tống Thành T2 và bà Tống Hoàng H được quyền kê khai đăng ký để được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 02/4/2021, bị đơn ông Phạm Văn M kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án c p phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến không Đ1 ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan vẫn giữ nguyên quan điểm. Các đương sự không th a thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, Luật sư Nguyễn Văn Tài trình bày quan điểm:

Nguyên đơn cho rằng phần đ t tranh ch p của bà M1 để lại nhưng nguyên đơn không có chứng cứ gì chứng minh mối liên hệ giữa gi y chứng khoán của bà M1 với các thửa đ t tranh ch p. Bị đơn xác định nguồn gốc đ t do cha mẹ bị đơn khai phá từ năm 1975; năm 1991 giao cho ông V sử dụng là có cơ sở, vì năm 1991, ông H1 được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, chứng minh trước đó ông H1 đã đăng ký kê khai và thực tế sử dụng đ t. Nguyên đơn không có chứng cứ nào xác định đã sử dụng đ t trước đó hay có việc đăng ký kê khai. Sau khi ông H1 m t, bà T2 mới đi đăng ký c p đổi. Và tại Sổ mục kê xác định bà T2 đã đi kê khai năm 1995 bao gồm các thửa đ t tranh ch p), trong khi thời điểm này, ông V có đăng ký kê khai đ t nhưng không đăng ký các thửa đ t đang tranh ch p này. Quyết định của Ủy ban nhân dân thị xã D xác định việc c p đ t cho ông V là sai quy định nên mới thu hồi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Tại bản án hành chính phúc thẩm đã hủy gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t c p cho bà T2 nhưng không thu hồi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t c p cho ông H1 nên về cơ bản gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t c p cho ông H1 vẫn còn giá trị, không bị b t kì cơ quan nào hủy b . Về hình thể các thửa đ t đều phù hợp với các thửa đ t c p cho ông H1. Chính quyền địa phương đã xác định đ t tranh ch p ông H1 và bà T2 đã đăng ký kê khai theo Chỉ thị 299. Tòa án c p sơ thẩm đã không tiếp cận, đánh giá toàn diện chứng cứ dẫn đến việc ra bản án không đảm bảo quyền lợi cho bị đơn. Do vậy, đề nghị c p phúc thẩm xem xét ch p nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận đ t thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn, không ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận cho nguyên đơn và các đồng thừa kế của ông V được quyền sử dụng các thửa đ t số 223, 224, 293, 1903 tờ bản đồ B3. Nguyên đơn xác định phần đ t tranh ch p là một phần trong tổng diện tích đ t 10.200m2, thửa 0016m thuộc Gi y chứng khoán số 326-01-11 do Trưởng ty điền địa Biên Hòa c p ngày 17/03/1971 cho bà M1, bà M1 chết để lại cho ông V. Tại Biên bản xác minh ngày 25/01/2021, Ủy ban nhân dân phường T1 cho biết: “Trên giấy chứng khoán không thể hiện sơ đồ thửa đất 10.200m2 và Ủy ban nhân dân phường cũng không lưu trữ hồ sơ cấp giấy chứng khoán nên không xác định được diện tích đất các đương sự đang tranh chấp có nằm trong diện tích 10.200m2 mà bà M1 (B) được cấp theo giấy chứng khoán hay không. Qua rà soát sổ đăng ký ruộng đất năm 1985 lưu trữ tại Ủy ban phường thì không thấy bà Quảng Thị M1 (B) đăng ký kê khai thửa đất nào tại xã T1 (nay là phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương”. Nguyên đơn không cung c p được chứng cứ chứng minh thửa đ t tranh ch p thuộc phần đ t bà M1 được Trưởng ty điền địa Biên Hòa c p. Do đó, lời trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc đ t tranh ch p là không có cơ sở. Bị đơn xác định đ t của bà T2 chết để lại, có nguồn gốc do ông H1 và bà T2 khai phá và từ năm 1991, ông V thuê đ t của ông H1 nhưng không cung c p được chứng cứ chứng minh, nguyên đơn cũng không thừa nhận. Căn cứ vào biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T1, tại Sổ mục kê ruộng đ t năm 1985, quyển số 01, trang 14 và 21, các thửa đ t số 573, 374 và 382 do Tập đoàn T3 kê khai, đăng ký. Như vậy, cả nguyên đơn và bị đơn đều không chứng minh được nguồn gốc đ t tranh ch p.

Căn cứ vào biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T1: Theo Sổ địa chính năm 1995 thì các thửa đ t 223, 224, 293 do bà T2 kê khai đăng ký. Theo Sổ địa chính năm 2005 thì các thửa đ t 223, 224 do ông V kê khai đăng ký, thửa đ t số 293, 1093 do ông Tống Văn B kê khai đăng ký. Ông B xác định đ t là của ông V, ông chỉ đứng tên kê khai giùm. Phần đ t này có nguồn gốc của Tập đoàn T3. Tuy nhiên, ông H1 lại kê khai đăng ký để c p sổ tr ng là không chính xác. Sau khi ông H1 chết, bà T2 kê khai nguồn gốc đ t do bà T2 khai phá và được c p đổi sổ đối với các thửa 223, 224, 293 cũng là không chính xác. Ông V, ông B kê khai năm 2004 là căn cứ vào thực tế quá trình sử dụng đ t. Biên bản xác minh ngày 04/10/2019 tại Ủy ban nhân dân phường T1 xác định phần đ t tranh ch p do ông V và gia đình sử dụng. Điều này phù hợp với lời khai của nguyên đơn và lời khai của người làm chứng đều xác nhận từ khi bà M1 còn sống, bà M1 và ông V quản lý, sử dụng đ t. Sau khi bà M1 chết, gia đình ông V là người sử dụng.

Năm 1995, khi còn sống, bà T2 khởi kiện ông Tống Văn V về việc tranh ch p quyền sử dụng đ t diện tích 1.200m2 tọa lạc khu phố T, phường T1, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Tại Bản án số 20/DSPT ngày 27/3/1995 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã giữ nguyên bản án sơ thẩm, ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà T2, buộc ông V trả cho bà T2 diện tích 1200m2. Ông V đã bị cưỡng chế giao đ t. Như vậy, việc thuê mượn đ t đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật từ năm 1995. Việc bà T2 kê khai đ t năm 1995 nhưng không phải là người sử dụng đ t và cũng không có gi y tờ gì chứng minh nguồn gốc đ t, trong khi phía nguyên đơn có quá trình sử dụng đ t lâu dài. Như vậy, ông V và gia đình đã sử dụng đ t liên tục, công khai, ngay tình đối với phần đ t tranh ch p trên 30 năm. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng đ t là có căn cứ ch p nhận theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tòa án c p sơ thẩm tuyên xử phù hợp quy định pháp luật, kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Luật sư, Kiểm sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về nội dung tranh ch p:

Nguyên đơn khởi kiện tranh ch p quyền sử dụng đ t với bị đơn có diện tích 1.717,9m2 (theo kết quả đo đạc thực tế) thuộc các thửa đ t số 223, 224, 293 và 1093 tờ bản đồ B3, tọa lạc tại khu phố T, phường T1, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương. Phần đ t tranh ch p nguyên đơn xác định là một phần trong tổng diện tích đ t là 10.200m2, thửa 0016 thuộc gi y chứng khoán số 326-01-11 do Trưởng ty điền địa Biên Hòa c p ngày 17/03/1971 cho bà Quảng Thị M1 (mẹ chồng bà L), đ t tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Biên Hòa (nay là khu phố T, phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương). Bị đơn không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định nguồn gốc 03 thửa đ t là một phần trong diện tích đ t do cha ông M là ông Tống Văn H1 đăng ký sử dụng, được U ban nhân dân huyện T1 c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 129/GCNSB ngày 15/10/1991 sổ tr ng), trong đó có các thửa đ t số 573, 374 và 387. Năm 1992, ông H1 qua đời. Năm 2000, bà T2 đã kê khai, đăng ký quyền sử dụng đ t, Ủy ban nhân dân huyện D An đã c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số K792023 ngày 24/4/2000 cho bà T2 sổ đ ) với diện tích đ t 8.275,8m2, trong đó có các thửa đ t số 293, 223 và 224. Từ năm 1991, ông Tống Văn V thuê đ t của ông H1 để canh tác và trả tiền thuê đ t bằng lúa hàng năm.

Hội đồng xét xử xét th y: Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Nguyên đơn cho rằng các thửa đ t đang tranh ch p gồm 223, 224, 293 và 1903 tờ bản đồ số B3, tọa lạc tại khu phố T, phường T1, thành phố D là một phần trong tổng diện tích 10.200m2 thuộc Gi y chứng khoán số 36-01-11 do Trưởng ty điền địa Biên Hòa c p ngày 17/3/1971 cho cụ Quảng Thị M1 (là mẹ chồng của nguyên đơn), cụ M1 chết để lại đ t cho ông Tống Văn V (là chồng nguyên đơn), nhưng không có chứng cứ gì chứng minh. Tòa án c p sơ thẩm thu thập chứng cứ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia 02 về hồ sơ c p gi y chứng khoán nêu trên không có kết quả. Tại Biên bản xác minh ngày 25/01/2021, Ủy ban nhân dân phường T1 cho biết trên gi y chứng khoán không thể hiện sơ đồ thửa đ t 10.200m2 và Ủy ban nhân dân phường cũng không lưu trữ hồ sơ. Do vậy, không xác định được các thửa đ t tranh ch p có thuộc diện tích 10.200m2 theo Gi y chứng khoán số 36-01-11 hay không. Qua rà soát Sổ đăng ký ruộng đ t năm 1985 lưu trữ tại Ủy ban nhân dân phường thì không th y bà Quản Thị M1 đăng ký kê khai thửa đ t nào tại Ủy ban nhân dân xã nay là phường) T1, thành phố D, Tòa án c p sơ thẩm cũng đã nhận định lời trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc đ t là không có cơ sở.

Về phía bị đơn xác định đ t của cụ T2 (mẹ bị đơn) chết để lại có nguồn gốc do cụ H1 (cha bị đơn) khai phá và đăng ký, kê khai năm 1991, được c p sổ tr ng; ba thửa đ t nguyên đơn đang tranh ch p là một phần quyền sử dụng đ t trong sổ bìa tr ng cụ H1 được c p, cho cháu ruột là ông Tống Văn V (chồng của nguyên đơn) thuê trồng lúa, hoa màu, mỗi năm ông V trả cho cụ H1, cụ T2 03 dạ lúa, điều này bên nguyên đơn không thừa nhận. Tuy nhiên, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện cụ H1 được Ủy ban nhân dân huyện T1 cũ) c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 129/GCNSB ngày 15/10/1991 sổ bìa tr ng), trong đó có các thửa đ t số 573, 374 và 387. Năm 1992, cụ H1 qua đời. Năm 2000, cụ T2 đã kê khai, đăng ký quyền sử dụng đ t, được Ủy ban nhân dân huyện D An (nay là thành phố D) c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số K792023 ngày 24/4/2000 cho cụ T2 sổ bìa đ ) với diện tích 8.275,8m2, trong đó có các thửa đ t số 293, 223 và 224 đang tranh ch p trên. Năm 2009, cụ T2 qua đời, ông M nhận thừa kế quyền sử dụng đ t của cụ T2, 03 thửa đ t số 293, 223 và 224 thể hiện trong gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của cụ T2 đã được tách thành 02 thửa: thửa số 1229 diện tích 1.115m2, tờ bản đồ số B3.1, theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 984568 ngày 22/3/2012 và thửa đ t số 1230, diện tích 721m2, tờ bản đồ số B3.1, theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 984569 ngày 22/3/2014 c p cho ông Phạm Văn M.

Tại Công văn số 6679/CNVPĐKĐĐ - KTĐĐBĐ ngày 25/9/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đ t đai thị xã D và Biên bản xác minh ngày 04/10/2019 và ngày 25/01/2021 của Ủy ban nhân dân phường T1, thành phố D thể hiện: Theo Sổ mục kê ruộng đ t và tờ bản đồ số 01 (thành lập theo Chỉ thị 299) tại trang 14 và 21, các thửa đ t số 374, 382, 572 ghi tên Tập đoàn T3. Theo Sổ địa chính đ t lập năm 1999, quyển số 02 - T, trang số 71 thể hiện bà Phạm Thị T2 – chủ sử dụng đ t các thửa 223, 224, 293. Theo Sổ mục kê đ t lập năm 1999, các thửa đ t 223, 224, 293 thể hiện tên bà Phạm Thị T2. Việc kê khai đăng ký của bà T2 theo diện đại trà. Các thửa đ t số 223, 224, 293, 1093 tờ bản đồ số B3 (bản đồ năm 1985) trước năm 1991 do Tập đoàn T3 I quản lý khi tập đoàn chưa tan rã, còn ai trực tiếp sử dụng thì Ủy ban không rõ. Theo Sổ mục kê năm 2005 tại phường T1 thì các thửa đ t 223, 224 do ông Tống Văn B (là anh của ông V) đăng ký; các thửa 293, 1093 do ông Tống Văn V đăng ký ông B có lời khai xác định là đăng ký thay cho ông V). Năm 2004, ông V được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t.

Xét th y, quyền sử dụng các thửa đ t đang tranh ch p theo lời khai của các đương sự về nguồn gốc đ t thì không thống nh t với nhau. Tuy nhiên, từ năm 1991 cụ H1 là cha ông M đã đăng ký, kê khai và được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t; cụ H1 chết thì cụ T2 là vợ cụ H1 và là mẹ ông M tiếp tục đăng ký kê khai và được c p đổi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t sang sổ bìa đ . Sau khi cụ T2 chết, ông M thừa kế đ t của cụ T2 và được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Như vậy, gia đình ông M đã có căn cứ xác lập quyền sử dụng đ t hợp pháp qua các thời kỳ, phù hợp với quy định tại Điều 100; khoản 1 Điều 168 của Luật Đ t đai năm 2013 Điều 2 của Luật Đ t đai năm 1993; khoản 1, 2, 5 Điều 50 của Luật Đ t đai năm 2003).

Tại Công văn số 194/UBND - TNMT ngày 26/01/2021 Ủy ban nhân dân thành phố Thuận An trả lời Công văn số 237/TA-DS ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An đề nghị Tòa án xác minh liên hệ Ủy ban nhân dân phường T1 để xác minh lý do vì sao theo Sổ mục kê năm 1985 thành lập theo Chỉ thị 299 thể hiện các thửa 223, 224, 293 (thửa cũ là 374, 382, 573 tờ bản đồ 01 năm 1985) do Tập đoàn T3 I kê khai đăng ký, nhưng lại c p gi y chứng nhận cho cụ H1 năm 1991.

Kết quả Tòa án c p sơ thẩm xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T1 thì Ủy ban nhân dân phường cũng xác định các thửa đ t tranh ch p trước đó do Tập đoàn T3 đăng ký, nhưng không có thông tin gì về Tập đoàn T3 như ai là Trưởng Tập đoàn; sau khi tập đoàn tan rã thì đ t được giao trả hoặc c p cho ai. Theo quy định của Luật Đ t đai qua các thời kỳ thì chính sách nh t quán của Nhà nước ta là: Đ t đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu quản lý; Nhà nước giao quyền sử dụng đ t cho cá nhân, tổ chức, hộ gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Thực tế, từ năm 1987 các Tập đoàn sản xu t đã tan rã, năm 1989 cụ H1 đã đăng ký, kê khai đ t (Biên nhận kê khai ruộng đ t do Ban nông nghiệp xã T1 c p, số 74c ngày 26/5/1989) và năm 1991 cụ H1 được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t (sổ bìa tr ng). Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t này không bị Nhà nước thu hồi hoặc hủy b mà được thay thế bằng Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t sổ bìa đ ) số K792023 ngày 24/4/2000 do cụ T2 đứng tên. Điều này càng chứng minh căn cứ xác lập quyền sử dụng đ t hợp pháp của bị đơn.

Đối với Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 2295 QSDĐ/HTH-TB do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) D c p ngày 10/5/2004 cho ông Tống Văn V năm 2004 là c p trước thời điểm ông V kê khai đăng ký năm 2005 là không phù hợp. Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 221/2018/HC-PT ngày 26/6/2018 của Tòa án nhân dân c p cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tại mục [2.3] đã nhận định việc Ủy ban nhân dân huyện D trước đây c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho ông V là sai sót, chồng l n và đã tuyên hủy gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t c p cho ông V.

Đối với Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t c p cho ông M cũng bị Tòa án nhân dân c p cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy với lý do không có căn cứ xác định nguồn gốc diện tích 1.907m2 thuộc các thửa 223, 224, 293 ông V được c p gi y chứng nhận số 2295 QSDĐ/HTH-TB ngày 10/5/2004 là một phần trong tổng diện tích 7.461m2 của cụ Tống Văn H1 được c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 129/GCNSB ngày 15/10/1991. Mặt khác, tại Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên nhận định diện tích đ t chuyển tên từ cụ H1 sang cụ T2 tăng từ 7.461m2 lên 8.275,8m2 gần bằng diện tích trong sổ ông V (1.814m2) là từ đâu, đây là điểm sai trong việc c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho cụ T2. Nội dung này đã được thể hiện tại Biên bản hòa giải ngày 02/4/2019 của Ủy ban nhân dân phường T1 như sau:“Đối với QSDĐ số 129 QSDĐ/TB ngày 15/10/1991 cấp cho ông Tống Văn H1 tại các thửa đất số 374, 382, 573 tờ bản đố số 01, qua đối chiếu bản đồ giải thửa được lập theo Chỉ thị 299 bản đồ 1995, bản đồ 2005 và thực tế sử dụng đất thì về hình thể, tứ cận, vị trí là phù hợp với các thửa 223, 224, 293, 1093 tờ bản đồ B3, thuộc quyền sử dụng đất số 594 cấp ngày 24/4/2000 cho bà Phạm Thị T2”. Tại Biên bản xác minh ngày 04/10/2019, Ủy ban nhân dân phường T1 tiếp tục khẳng định: Dựa trên nhận định so sánh về hình thể thửa đ t thể hiện trên bản đồ năm 1985 thành lập theo Chỉ thị 299 với bản đồ địa chính thành lập năm 1995 và bản đồ địa chính thành lập năm 2005; kết hợp với so sánh đối chiếu giữa tên người liên ranh tứ cận thể hiện trên gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t với tên người liên ranh tứ cận thực tế hiện nay, nên Hội đồng hòa giải phường T1 mới đưa ra nhận định như trên. Hơn nữa, theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/5/2019 (BL 350 - 351) và Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/11/2020 (BL 605 - 606) thể hiện trên đ t tranh ch p chỉ có các cây hoa màu (dưa leo) và cây hàng năm chuối) do bà L trồng, không có tài sản là công trình xây dựng hay cây lâu năm của nguyên đơn. Như vậy, có căn cứ xác định phần đ t tranh ch p là của bà T2, ông H1 cho ông V thuê sử dụng từ năm 1991. Cho nên Biên bản xác minh ngày 04/10/2019 tại Ủy ban nhân dân phường T1 và lời khai của người làm chứng ông Phạm Văn Cang, ông Phạm Văn Phát, ông Nguyễn Văn Lực, ông Châu Văn Thơ, ông Phạm Ngọc T n xác nhận ông V, bà L và các con ông V canh tác đ t này là phù hợp.

Như vậy, đã có đủ căn cứ khẳng định các thửa đ t đang tranh ch p thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông M, được chuyển tiếp từ cha ông M là cụ H1 đến mẹ ông M là cụ T2 và sau cùng ông M hưởng thừa kế tài sản này từ mẹ là cụ T2), quyền lợi của ông M cần được bảo vệ. Tòa án c p sơ thẩm ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đánh giá chứng cứ chưa toàn diện. Tuy nhiên, như đã phân tích ở phần trên thì gia đình ông V có quá trình sử dụng đ t (canh tác hoa màu) trong một thời gian dài. Vì vậy, cần xem xét công sức cho nguyên đơn một phần đ t tương xứng là thửa đ t riêng biệt thuộc thửa đ t số 293 và 1093 có diện tích 609,9m2 tương ứng 35,5% tổng diện tích đ t tranh ch p là hợp tình, hợp lý.

Ông M có trách nhiệm bồi hoàn cho bà L giá trị các cây trồng do bà L đã trồng trên đ t thửa số 223 và thửa số 224 theo Biên bản định giá ngày 01/8/2019 của Tòa án c p sơ thẩm gồm: 13 cây cau x 250.000đ/cây = 3.250.000 đồng; 04 cây dừa x 170.000đ/cây = 680.000 đồng; 15 cây chuối x 42.000đ/cây = 630.000 đồng, tổng số tiền là 4.560.000 đồng.

Từ những phân tích trên, Tòa án c p sơ thẩm ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa phù hợp, có căn cứ để Hội đồng xét xử ch p nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Trình bày của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn là có căn cứ ch p nhận một phần.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là có căn cứ ch p nhận một phần.

Về chi phí tố tụng:

- Ông Phạm Văn M có ngh a vụ thanh toán cho nguyên đơn bà Mai Thị L số tiền 2.950.000đ (hai triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).

- Nguyên đơn bà Mai Thị L phải chịu số tiền 500.000đ năm trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng tại Tòa án c p sơ thẩm.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Mai Thị L và bị đơn ông Phạm Văn M là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Phạm Văn M được miễn án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 236 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 2 của Luật Đ t đai năm 1993; các khoản 1, 2, 5 Điều 50 của Luật Đ t đai năm 2003; Điều 100; khoản 1 Điều 168 của Luật Đ t đai năm 2013;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Ch p nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn M.

2. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2021/DS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương, như sau:

2.1. Ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị L đối với bị đơn ông Phạm Văn M về việc “Tranh ch p quyền sử dụng đ t”.

- Bà Mai Thị L, ông Tống Văn B, bà Tống Thị Kim N, ông Tống Kim Đ1, ông Tống Thanh T1, ông Tống Thành T2 và bà Tống Hoàng H được quyền quản lý, sử dụng phần đ t có diện tích 602,9m2, thuộc thửa số 293 và thửa số 1093, tờ bản đồ B3, tọa lạc tại khu phố T, phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

- Ông Phạm Văn M được quyền quản lý, sử dụng phần đ t có diện tích 1.115,0m2, thuộc thửa số 223 và thửa số 224, tờ bản đồ B3, tọa lạc tại khu phố T, phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

- Ông M có trách nhiệm bồi hoàn cho bà Mai Thị L giá trị các cây trồng trên đ t gồm: 13 cây cau, 04 cây dừa, 15 cây chuối với tổng số tiền là 4.560.000 đồng (bốn triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án, thì hàng tháng còn chịu tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Bà Mai Thị L, ông Tống Văn B, bà Tống Thị Kim N, ông Tống Kim Đ1, ông Tống Thanh T1, ông Tống Thành T2, bà Tống Hoàng H và ông Phạm Văn M được quyền kê khai đăng ký để được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t theo quy định của pháp luật về đ t đai.

2.2. Không ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị L đối với bị đơn ông Phạm Văn M về việc tranh ch p quyền sử dụng đ t có diện tích 1.115,0m2, thuộc thửa số 223 và thửa số 224, tờ bản đồ B3, tọa lạc tại khu phố T, phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

2.3. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

- Bị đơn ông Phạm Văn M có ngh a vụ thanh toán cho nguyên đơn bà Mai Thị L số tiền 2.950.000 (hai triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).

- Nguyên đơn bà Mai Thị L phải chịu số tiền 500.000đ năm trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng tại Tòa án c p sơ thẩm.

2.4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Nguyên đơn bà Mai Thị L và bị đơn ông Phạm Văn M được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm.

- Hoàn trả cho bà Mai Thị L 300.000 đồng tiền tạm ứng án đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0028422 ngày 18/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dương.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Phạm Văn M được miễn án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ