vanban.org

Bản án 15/2021/LĐ-ST — Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 01/12/2021 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lữ Thị Thùy T về việc yêu cầu bị đơn Công ty TNHH Ph1 xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 01/2016 đến hết tháng 5/2016 và Công ty TNHH Ph xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội tháng 02/2018.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lữ Thị Thùy T đối với bị đơn Công ty TNHH Ph1 và bị đơn Công ty TNHH Ph về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”: 1. Buộc Công ty TNHH Ph1 phải xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Lữ Thị Thùy T từ tháng 6/2016 đến tháng 01/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Tranh chấp bảo hiểm xã hội"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lữ Thị Thùy T về việc yêu cầu bị đơn Công ty TNHH Ph1 xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 01/2016 đến hết tháng 5/2016 và Công ty TNHH Ph xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội tháng 02/2018.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 15/2021/LĐ-ST
Ngày 01 - 12 - 2021
V/v tranh chấp về bảo hiểm xã hội

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Lao động thụ lý số: 49/2020/TLST-LĐ ngày 09 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 20/2021/QĐXXST-LĐ ngày 08 tháng 7 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2021/QĐST-LĐ ngày 05 tháng 8 năm 2021, Thông báo mở lại phiên tòa số 48/2021/TB-TA ngày 15 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2021/QĐST-LĐ ngày 04 tháng 11 năm 2021, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Lữ Thị Thùy T, sinh năm 1978; thƣờng trú: Số 211/45, , phƣờng T, quận P, thành phố M. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn:

1/ Công ty TNHH Ph; địa chỉ: Số 53/3 đƣờng K, khu phố T, phƣờng B, thành phố A, tỉnh D. Vắng mặt.

2/ Công ty TNHH Ph1; địa chỉ: Số 1191 T, Phƣờng A, quận V, Thành phố M. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố A, tỉnh D, địa chỉ: Trung tâm hành chính thành phố A, tỉnh D.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Dƣơng Văn T chức vụ: Nhân viên Bảo hiểm xã hội thành phố A; là ngƣời đại diện theo ủy quyền. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 9 năm 2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 29 tháng 10 năm 2020 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Lữ Thị Thùy T trình bày:

Bà làm việc tại Công ty TNHH Ph1 từ tháng 12/2012 với vị trí là công nhân, có ký hợp đồng lao động với mức lƣơng cơ bản là 2.515.000 đồng/tháng và đƣợc tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Quá trình làm việc các bên có ký với nhau nhiều hợp đồng xác định thời hạn, đến 01/2016 thì ký hợp đồng không xác định thời hạn với mức lƣơng cơ bản là 3.745.000 đồng. Đến ngày 01/01/2017 các bên lại ký hợp đồng không xác định thời hạn với mức lƣơng đƣợc tăng lên 4.213.000 đồng nhƣng lần này công ty giữ lại hợp đồng và không đƣa cho bà giữ bản nào. Công ty Ph1có trụ sở tại quận V, Thành phố M nhƣng bà T làm việc tại chi nhánh của công ty đặt tại khu phố T, phƣờng B, thành phố A, tỉnh D và tham gia bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố A. Đến tháng 01/2018, Công ty TNHH Ph thành lập và hoạt động ngay tại chi nhánh Công ty Ph1. Theo đề nghị của Công ty ông Trang đã chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty Ph1và ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Ph từ ngày 01/02/2018; mức lƣơng chính theo hợp đồng là 4.697.000 đồng. Bà T tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội Dĩ An cho đến khi nghỉ việc hết tháng 07/2020. Tuy nhiên, sau khi nghỉ việc cả Công ty Ph1và Công ty Ph1 chƣa đóng và chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà đầy đủ mặc dù hàng tháng các công ty trên đều trích từ tiền lƣơng của bà để đóng bảo hiểm.

Bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Ph1 có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 01/2016 đến tháng 01/2018 và buộc Công ty TNHH Ph chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 02/2018 đến tháng 07/2020.

Tuy nhiên, Công ty Ph1 đã đóng bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 11/2012 đến hết tháng 5/2016 và Công ty Ph đã đóng bảo hiểm xã hội cho bà T tháng 02/2018 nên bà T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Công ty TNHH Ph1 có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà từ tháng 01/2016 đến hết tháng 5/2016 và Công ty Ph có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội tháng 02/2018.

Nhƣ vậy, bà T chỉ yêu cầu Công ty TNHH Ph1 có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà từ tháng 6/2016 đến tháng 01/2018 và Công ty TNHH Ph chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà từ tháng 03/2018 đến tháng 9/2019 và trả sổ bảo hiểm xã hội.

- Đối với bị đơn Công ty TNHH Ph1 và Công ty TNHH Ph:

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho các bị đơn thông báo thụ lý vụ án, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, yêu cầu tham gia phiên họp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhƣng các bị đơn không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nhƣ vậy, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đƣợc xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập đƣợc trong quá trình giải quyết vụ án.

- Tại bản tự khai ngày 27/10/2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố A là ông Dương Văn Tr trình bày:

Công ty TNHH Ph1 bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tại BHXH thị xã thành phố A từ tháng 03/2011, tính đến tháng 9/2020 Công ty Ph1còn nợ số tiền 4.181.479.752 đồng, đã nộp tiền bảo hiểm xã hội đến hết tháng 5/2016. Công ty TNHH Ph1 tham gia bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 11/2012 đến tháng 01/2018 (chƣa chốt sổ bảo lƣu). Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, đề nghị Công ty Ph1 có trách nhiệm đóng tiền và chốt sổ cho bà từ tháng 06/2016 đến tháng 01/2018.

Công ty TNHH Ph bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tại BHXH thành phố A từ tháng 02/2018, tính đến tháng 9/2020 Công ty TNHH Ph còn nợ số tiền 3.421.267.453 đồng, đã nộp tiền bảo hiểm xã hội tháng 02/2018. Công ty TNHH Ph tham gia bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 02/2018 đến tháng 9/2019. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, đề nghị Công ty Ph1Bình Dƣơng có trách nhiệm đóng tiền và chốt sổ cho bà T từ tháng 03/2018 đến tháng 9/2019 và trả sổ BHXH cho bà T theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố A, tỉnh D tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, các bị đơn đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn bà T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Công ty TNHH Ph1 có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 01/2016 đến hết tháng 5/2016 và Công ty Ph có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà T tháng 02/2018. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút. Căn cứ vào tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập và các đƣơng sự cung cấp đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Tòa án nhận định:

1 Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ vào quan hệ lao động giữa nguyên đơn và bị đơn, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tòa án xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp lao động, cụ thể là “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”. Bị đơn Công ty TNHH Ph có trụ sở tại 53/3 K, khu phố T, phƣờng B, thành phố A, tỉnh D; đối với bị đơn Công ty TNHH Ph1 thì nguyên đơn lựa chọn Tòa án giải quyết nơi tổ chức có chi nhánh, đồng thời nơi nguyên đơn làm việc tại số 53/3 K, khu phố T, phƣờng B, thành phố A, tỉnh D nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm b, đ khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Các bị đơn Công ty TNHH Ph1 và Công ty TNHH Ph đã đƣợc Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa mà vẫn vắng mặt không có lý do; nguyên đơn và ngƣời đại diện theo ủy quyền của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội Dĩ An có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Nguyên đơn bà T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần yêu cầu Công ty TNHH Ph1 có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà từ tháng 01/2016 đến hết tháng 5/2016 và Công ty Ph có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội tháng 02/2018. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên căn cứ các Điều 235, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện đã rút.

Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp thì có cơ sở xác định giữa nguyên đơn với bị đơn có quan hệ lao động với nhau. Quan hệ lao động giữa nguyên đơn và bị đơn trên tinh thần tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên có giá trị và hiệu lực thi hành. Quá trình làm việc nguyên đơn đƣợc bị đơn tham gia bảo hiểm xã hội và hàng tháng bị đơn vẫn trích tiền lƣơng của nguyên đơn để tham gia bảo hiểm xã hội.

Hết tháng 01/2018, bà T chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty TNHH Ph1 và đến tháng 9/2019, bà T chấm dứt hợp đồng với Công ty TNHH Ph. Việc chấm đứt hợp đồng lao động là tự nguyện, tuy nhiên, Công ty TNHH Ph1 và Công ty TNHH Ph không hoàn tất thủ tục để chốt sổ bảo hiểm xã hội và trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà T làm ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà.

Việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là trách nhiệm của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 19 và khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội. Theo lời trình bày của ngƣời đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội Dĩ An xác nhận Công ty TNHH Ph1 có tham gia bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng11/2012 đến tháng 01/2018 (Công ty Ph1đã nộp tiền bảo hiểm xã hội cho đến hết tháng 5/2016); Công ty TNHH Ph tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 02/2018 đến tháng 9/2019 (Công ty Ph đã nộp tiền bảo hiểm xã hội tháng 02/2018), thời gian còn lại bị đơn đang nợ tiền bảo hiểm xã hội nên chƣa thể chốt sổ bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật. Nhƣ vậy, việc các bị đơn đã trừ tiền lƣơng hàng tháng của nguyên đơn nhƣng không trích nộp tiền bảo hiểm xã hội, không chốt sổ bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn là vi phạm đến quyền lợi, hợp pháp của nguyên đơn theo quy định tại khoản 5 Điều 21 và là hành vi bị nghiêm cấm quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014; khoản 2 và khoản 3 Điều 47 Bộ Luật lao động.

Từ những phân tích trên có đủ sơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến đề xuất giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

Về án phí: Nguyên đơn bà Lữ Thị Thùy T không phải chịu. Bị đơn Công ty TNHH Ph1 và Công ty TNHH Ph phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 144, 147, 228, 235, 238, 244, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 47 Bộ luật Lao động năm 2012; căn cứ Điều 19 và Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lữ Thị Thùy T về việc yêu cầu bị đơn Công ty TNHH Ph1 xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 01/2016 đến hết tháng 5/2016 và Công ty TNHH Ph xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội tháng 02/2018.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lữ Thị Thùy T đối với bị đơn Công ty TNHH Ph1 và bị đơn Công ty TNHH Ph về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”:

2.1. Buộc Công ty TNHH Ph1 phải xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Lữ Thị Thùy T từ tháng 6/2016 đến tháng 01/2018.

2.2. Buộc Công ty TNHH Ph phải xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Lữ Thị Thùy T từ tháng 3/2018 đến tháng 9/2019 và trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà Lữ Thị Thùy T.

3. Về án phí lao động sơ thẩm:

- Bà Lữ Thị Thùy T không phải chịu.

- Công ty TNHH Ph1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

- Công ty TNHH Ph phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

4. Nguyên đơn, bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ