vanban.org

Bản án 15/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 05/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Đức T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”, xử phạt bị cáo Phạm Đức T 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Đức T cho UBND xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đức T phạm tội tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đức T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”, xử phạt bị cáo Phạm Đức T 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/HSST
Ngày: 05-5-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Việt Long và bà Phạm Thị Hợi

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tứ

Kỳ, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ - tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2021/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2021/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Phạm Đức T, sinh năm 1983 tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn V, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức C và bà Nguyễn Thị L; vợ Đoàn Thanh S có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: tốt. Bị tạm giữ từ ngày 24/01/2021 đến ngày 27/01/2021 (03 ngày) được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người làm chứng:

Anh Phạm Đức T, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Chị Lê Trang A, sinh năm 1999; địa chỉ: phường B, quận T, thành phố Hà Nội.

Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ 1, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

(Những người làm chứng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Đức T có ý định mua pháo nổ để đốt vào dịp Tết nguyên đán Tân Sửu 2021. Vào khoảng đầu tháng 01 năm 2021, T vào facebook của mình tên "Nhac cuoi Duc Thuong" thấy có một bài đăng bán pháo nổ (Thường không nhớ tên facebook đăng bài này). Sau khi xem, T nhắn tin cho địa chỉ facebook này hỏi mua pháo nổ. Người này nhắn tin cho T yêu cầu liên hệ vào số điện thoại 0528.423.991 để giao dịch mua bán pháo. T dùng điện thoại di động của mình nhãn hiệu Oppo A83 màu đen lắp sim điện thoại số 0364.353.593 là số thuê bao của T gọi vào số điện thoại trên nói muốn mua 2.500.000 đồng pháo nổ. Người này nói khi có pháo sẽ gọi điện cho T hẹn địa điểm để giao pháo. Khoảng 20 giờ ngày 24/01/2021 T nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0528.423.991 hẹn T đến cổng công ty TNHH BaiHong thuộc thôn A, xã N, huyện Tứ Kỳ để lấy pháo T hỏi mua. T điều khiển xe máy kiểu dáng HONDA loại WAVE, màu xanh đen BKS 14F9-6463 rủ anh Phạm Đức T là anh trai T cùng đi đến cổng công ty TNHH BaiHong nói với anh T là "anh em mình đi chơi". Khi đến nơi, T gặp một người phụ nữ khoảng 30 tuổi, đeo khẩu trang, đội mũ, sau khi hỏi chuyện T biết đây là người bán pháo. T hỏi "pháo để ở đâu", người phụ nữ chỉ vào thùng carton để trên vỉa hè trước cổng công ty BaiHong cách vị trí hai người đứng khoảng 20m nói "để ở kia". T hiểu đó là thùng đựng pháo nổ và đưa cho người phụ nữ này số tiền 2.500.000 đồng, người phụ nữ nhận tiền rồi lên xe ô tô đi về hướng thành phố Hải Dương (không nhớ nhãn hiệu, biển số xe). T đi xe mô tô đến chỗ thùng carton chứa pháo kích thước (57x37x34) cm bên trong chứa 03 hộp hình vuông đều có kích thước (14,5x14,5x14,5) cm bốn mặt cạnh được bọc giấy đỏ có in chữ nước ngoài đều có khối lượng 1,5kg; 09 cuộn hình trụ tròn đều có đường kính 12,5cm, cao 8,5cm, bên ngoài được bọc bằng giấy báo, bên trong mỗi cuộn gồm các cuộn nhỏ hình trụ tròn bên ngoài màu đỏ, cao 8,5cm đường kính 1,5cm, mỗi cuộn đều có khối lượng 0,5kg; 02 vật hình trụ tròn đều có đường kính 29,5cm, chiều cao 6cm, bên ngoài các cuộn được bọc giấy màu vàng có in họa tiết hình rồng và chữ nước ngoài, mặt đáy được bọc nilon màu đỏ, đều có khối lượng 1,5kg. Thường dùng hai tay bê thùng carton này lên định đặt vào xe mô tô thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 705/C09-P2 ngày 25/01/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: 03 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, có in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối hộp gồm 36 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), có khối lượng 4,5kg (bốn phẩy năm kilôgam); Các vật hình trụ, vỏ giấy màu đỏ, một đầu mỗi vật có gắn dây ngòi được liên kết với nhau thành 09 tràng (09 bánh hình trụ tròn có đường kính 12,5cm, cao 8,5cm) đều là pháo nổ, có khối lượng 4,5kg (bốn phẩy năm kilôgam); Các vật hình trụ, vỏ giây màu đỏ, một đầu mỗi vật có gắn dây ngòi được liên kết với nhau thành 02 tràng (02 bánh hình trụ tròn có đường kinh 29,5cm, cao 06cm) đều là pháo nổ, có khối lượng 03kg (ba kilôgam). Tổng khối lượng là 12 kg (mười hai kilôgam). Hoàn lại mẫu vật sau khi trích 0,6 kg pháo để giám định.

Tại bản Cáo trạng số: 16/CT- VKSTK ngày 08 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Tứ Kỳ truy tố Phạm Đức T về tội: "Tàng trữ hàng cấm", theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng, bị cáo xác định khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/01/2021 đã tàng trữ 12 kg pháo nổ để sử dụng như đã nêu trên và đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất và được cải tạo tại địa phương.

Anh Phạm Đức T là người làm chứng vắng mặt, có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/01/2021 đi cùng với T nhưng không biết T đi mua pháo nổ, khi bị lượng lực Công an phát hiện bắt quả tang thì anh mới biết.

Chị Lê Trang A là người làm chứng vắng mặt, có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ xác định: Khoảng giữa năm 2020 có đăng ký chính chủ số sim 0528.423.991 đến cuối năm 2020 thì bị mất chiếc điện thoại di động có lắp số sim trên, chị xác định không có giá trị sử dụng nên không báo cho nhà mạng để báo mất và cắt các dịch vụ.

Anh Nguyễn Văn Đ là người làm chứng vắng mặt khai: Tháng 7/2008 anh bị mất chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại Wave, màu xanh đen BKS 14F9-6463 do anh là chủ sở hữu, anh xác định chiếc biển số xe không còn giá trị sử dụng nên không nhận lại

VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Phạm Đức T phạm tội "Tàng trữ hàng cấm"; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm s, i khoản 1 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 BLHS; xử phạt phạt bị cáo Phạm Đức T từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước xe mô nhãn hiệu HONDA loại WAVE màu sơn xanh đen, tịch thu cho tiêu hủy biển số 14F9-6463; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của người làm chứng cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/01/2021 tại trước cổng công ty TNHH BaiHong thuộc thôn A, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện, bắt quả tang Phạm Đức T tàng trữ trái phép: 03 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, có in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối hộp gồm 36 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau, có khối lượng 4,5kg (bốn phẩy năm kilogam); Các vật hình trụ, vỏ giấy màu đỏ, một đầu mỗi vật có gắn dây ngòi được liên kết với nhau thành 09 tràng (09 bánh hình trụ tròn có đường kính 12,5cm, cao 8,5cm), có khối lượng 4,5kg (bốn phẩy năm kilogam); Các vật hình trụ, vỏ giấy màu đỏ, một đầu mỗi vật có gắn dây ngòi được liên kết với nhau thành 02 tràng (02 bánh hình trụ tròn có đường kính 29,5cm, cao 06cm), có khối lượng 03kg (ba kilogam) đựng trong 01 hộp carton kích thước 57x37x34cm là pháo nổ. Tổng khối lượng lượng pháo nổ tàng trữ trái phép là 12kg.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật song vẫn cố ý thực hiện tàng trữ 12 kg pháo nổ, để sử dụng, nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ hàng cấm" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS. Như vậy, Quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là hoàn toàn đúng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh và lưu thông hàng hóa nên cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Về nhân thân, về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, i khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 của BLHS. Do vậy, không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt từ cho hưởng án treo để tạo điều kiện cho bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội. Như vậy là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của BLHS.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Đối với số pháo nổ thu giữ của Phạm Đức T, ngày 27/01/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ đã ra Quyết định xử lý vật chứng tiến hành tiêu hủy toàn bộ số pháo trên. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83 màu đen lắp sim điện thoại số 0364.353.593 T sử dụng vào việc liên lạc mua pháo nổ T đã làm mất, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ đã truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được; nên HĐXX không xem xét và giải quyết. Đối với chiếc xe mô tô có kiểu dáng Honda loại WAVE màu sơn xanh gắn biển số 14 F9-6463, số khung TBXG81B1 Y3114248, số máy 1P52FMH3Y187578 là của T mua của một người đi đường với giá 500.00 đồng, khi mua xe người bán nói giấy đăng ký xe bị rơi mất và T cũng không viết giấy mua bán xe. Tiến hành tra cứu tại Phòng PC08 Công an tỉnh Hải Dương xe mô tô có số khung số máy nêu trên không tìm thấy dữ liệu tra cứu và không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng; biển số xe 14 F9-6463 được đăng ký mang tên anh Nguyễn Văn Đ nhưng có số khung, số máy khác và không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Đối với biển số xe 14 F9-6463 là của anh Nguyễn Văn Đ, anh Đ xác định chiếc biển số không còn giá trị sử dụng nên không nhận lại. Chiếc xe mô tô trên T sử dụng để mua pháo ngày 24/01/2021 T đề nghị tịch thu sung công quỹ và tiêu hủy biển số xe 14F9-64.63. Nên HĐXX căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe mô nhãn hiệu HONDA loại WAVE màu sơn xanh đen, tịch thu cho tiêu hủy biển số 14F9-6463.

Trong vụ án này, anh Phạm Đức T đi cùng với T khi T mua pháo, nhưng anh T không biết nên không đặt ra xử lý. Đối với người phụ nữ bán pháo cho T, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ không làm rõ tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s, i khoản 1 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Đức T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”, xử phạt bị cáo Phạm Đức T 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Đức T cho UBND xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước xe mô nhãn hiệu HONDA loại WAVE màu sơn xanh đen, tịch thu cho tiêu hủy biển số 14F9-6463 (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 15/4/2021).

3. Về án phí: Bị cáo Phạm Đức T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ