vanban.org

Bản án 15/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ Tuyên án 28/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí vè lệ phí Toàn án.

* Tuyên bố: Nguyễn Văn L phạm tội “Hủy hoại tài sản”. * Xử phạt: Nguyễn Văn L 02(hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/12/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí vè lệ phí Toàn án.
  • Căn cứ chính? Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI LAI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/HSST
Ngày: 28-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Khiêm

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Tuấn Lạc

2. Ông Nguyễn Hữu Khanh

Thư ký toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Lư – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2021/HSST ngày 24 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2021/QĐXX-HS ngày 13 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn L, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1995; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, huyện C, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; tôn giáo: không; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: bơm cát thuê; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 (mất) và bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1970 (sống). Anh chị em ruột: 01 người; bị cáo chưa có vợ con.

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Thới Lai. Có mă ̣t ta ̣i phiên tòa.

Nguyên đơn dân sự: Cơ quan Công an nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. Người đại diện ủy quyền: ông Nguyễn Phương K, sinh năm: 1977. Địa chỉ: ấp Q, xã W, huyện C, thành phố Cần Thơ. (văn bản ủy quyền số 71/TB-CAH-TH ngày 08/3/2021). Vắng mặt

Người làm chứng:

1. Ông Bùi Ngọc H, sinh năm 1983;

Địa chỉ: khu vực T, phường Th, quận TN, thành phố Cần Thơ. Có mặt

2. Ông Nguyễn Hoài L, sinh năm 1991;

Địa chỉ: khu vực 1, Phường A, quận NK, thành phố Cần Thơ. Có mặt

3. Ông Lê T, sinh năm 1991;

Địa chỉ: ấp A, thị trấn R, huyện C, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt

4. Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1970;

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 10 phút, ngày 17/3/2020 Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô biển số 65H1-433.22 trên tuyến đường tỉnh lộ 919 hướng từ xã ĐT đi xã B trong trạng thái say rượu, không đội mũ bảo hiểm. Bị cáo L thấy tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an huyện C, thành phố Cần Thơ gồm các đồng chí Bùi Ngọc H, Lê T và Nguyễn Hoài L đi trên xe ô tô tải biển số 65E-1163 theo hướng ngược lại, khi nhìn thấy tổ tuần tra bị cáo L dựng xe giữa đường, thì tổ tuần tra dừng xe yêu cầu L dẫn xe vào lề đường nhưng bị cáo không chấp hành mà nằm xuống giữa đường. Tổ tuần tra thấy vậy nên dìu L vào lề yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn, đồng thời kiểm tra giấy tờ xe của bị cáo. Bị cáo không chấp hành mà có lời lẽ lớn tiếng, thách thức tổ tuần tra, tổ tuần tra liên lạc với lượng lực Công an xã B đến hỗ trợ yêu cầu L thổi vào máy đo nồng độ cồn, đến lần thứ ba thì bị cáo chấp hành cho đo nồng độ cồn, bị cáo có nồng độ là 0,939mg/lít, nhưng không xuất trình giấy tờ xe. Một lúc sau thì L đi từ phía sau xe ô tô tải của tổ tuần tra kiểm soát giao thông, bị cáo đi ra phía trước dùng tay đập 02 cái vào kính chắn gió làm bể kính chắn gió xe 65E-1163, nên bị cáo L bị lực lượng Công an xã đưa về trụ sở lập biên bản.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn L khai nhận dùng tay đập bể kính chắn gió xe ô tô tải của tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an huyện C, thành phố Cần Thơ như nội dung trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1987/KL-HĐĐG, ngày 23/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: Kính chắn gió phía trước xe ô tô tải biển số 65E-1163 đã qua sử dụng với số tiền 5.500.000đồng.

Vật chứng thu giữ: 01(một) tấm kính chắn gió của xe 65E-1163 bị bể.

Về trách nhiệm dân sự: bà Nguyễn Thị Ú là mẹ bị cáo Nguyễn Văn L đã bồi thường số tiền 5.500.000đồng cho Công an huyện C, thành phố Cần Thơ.

Tại cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 22 tháng 3 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai đã truy tố Nguyễn Văn L về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời phân tích đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo. Kiểm sát viên cho rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe và phòng ngừa chung, tuy nhiên cần xem xét đánh giá các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Hủy hoại tài sản. Trên cơ sở đó, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 2 Điều 178; Điều 38; Điều 50; điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 02(hai) năm tù đến 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: đề nghị không xem xét đối với bị cáo Nguyễn Văn L

Về trách nhiệm dân sự: bà Nguyễn Thị Ú là mẹ bị cáo Nguyễn Văn L đã bồi thường số tiền 5.500.000đồng cho Công an huyện C, thành phố Cần Thơ và đại diện Công an huyện C, thành phố Cần Thơ không có yêu cầu gì. Nên đề nghị không đặt ra xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) tấm kính chắn gió của xe 65E-1163 bị bể không còn giá trị sử dụng.

Tại phiên tòa và tranh tụng:

Bị cáo Nguyễn Văn L vẫn khai nhận hành vi phạm tội như đã khai trong quá trình điều tra và nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng, tại phiên tòa bị cáo xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thấy có lỗi, bị cáo ăn năn hối cải.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử xét thấy các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện một cách nhất quán, đảm bảo tính khách quan, tính liên quan và hợp pháp, cơ quan tiến hành tố tụng cũng đã đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của đại diện nguyên đơn dân sự, người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ 10 phút, ngày 17/3/2020 Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô biển số 65H1-433.22 trên tuyến đường tỉnh lộ 919 hướng từ xã ĐT đi xã B trong trạng thái say rượu, không đội mũ bảo hiểm. Khi bị cáo Lộc thấy tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an huyện C, thành phố Cần Thơ gồm các đồng chí Bùi Ngọc H, Lê T và Nguyễn Hoài L đi trên xe ô tô tải biển số 65E-1163 theo hướng ngược lại, khi nhìn thấy tổ tuần tra bị cáo L dựng xe giữa đường, thì tổ tuần tra dừng xe yêu cầu L dẫn xe vào lề đường nhưng bị cáo không chấp hành mà nằm xuống giữa đường. Sau đó lực lượng làm nhiệm vụ yêu cầu L thổi vào máy đo nồng độ cồn, cho kết quả thể hiện bị cáo có nồng độ là 0,939mg/lít, nhưng không xuất trình giấy tờ xe. Một lúc sau thì L đi từ phía sau xe ô tô tải của tổ tuần tra kiểm soát giao thông, bị cáo đi ra phía trước dùng tay đập 02 cái vào kính chắn gió làm bể kính chắn gió xe 65E-1163. Giá trị tài sản bị hủy hoại và phải thay kính chắn gió mới là 5.500.000đồng. Do đó bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn L về tội Hủy hoại tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và hiểu rõ rõ hành vi hủy hoại tài sản là phạm tội nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sỡ hữu tài sản còn gây mất trật tự trị an tại địa phương khi cơ quan chức năng đang thực thi công vụ. Sự cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo trước khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự để quyết định cho bị cáo một mức hình phạt phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện mang tính chất côn đồ.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại. Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Như vậy, cần áp dụng điểm e khoản 2 Điều 178; các điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự là Công an huyện C, thành phố Cần Thơ đã nhận đủ số tiền mẹ bị cáo bồi hoàn tiền thay kính chắn gió mới là 5.500.00đồng và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) tấm kính chắn gió của xe 65E-1163 bị bể không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 2 Điều 178, Điều 38, Điều 50; điểm b điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí vè lệ phí Toàn án.

* Tuyên bố: Nguyễn Văn L phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

* Xử phạt: Nguyễn Văn L 02(hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/12/2020.

Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) tấm kính chắn gió của xe 65E-1163 bị bể không còn giá trị sử dụng tại Cơ quan Thi hành án Dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Bị cáo phải chịu 200.000đồng(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước;

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Đối với những người tham gia tố tụng khác vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ