vanban.org

Bản án 15/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 02/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lý Tường C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” * Xử phạt: Bị cáo Lý Tường C1 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính ngày 12 tháng 4 năm 2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy do bị cáo Lý Tường C1 thực hiện - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU
_______

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/HSST
Ngày 02-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Minh Út.

Ông Nguyễn Minh Trọn

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2021/TLST-HS, ngày 31 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo: Lý Tường C1, sinh ngày 16 tháng 11 năm 1989 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh C; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không theo tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn U và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có vợ và một con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12 tháng 4 năm 2021 sau đó chuyển tạm giam đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Tô Trí H, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm 6, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 11 tháng 4 năm 2021, tại nhà Huỳnh Văn T1 ở ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh C Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Cà Mau bắt quả tang bị cáo Lý Tường C1 đang giao dịch mua bán với Tô Trí H. Tại hiện trường phát hiện, thu giữ, niêm phong 01 bọc ni lon màu trắng bên trong có chứa chất rắn màu trắng nghi là ma túy và hai tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 100.000 đồng. Tô Trí H khai nhận có liên hệ trước với bị cáo Lý Tường C1 để mua ma túy, khi bị cáo C1 giao ma túy thì bị bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 108/GĐH-PC09, ngày 13 tháng 4 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong bọc ni lon được niêm phong hình chữ nhật ký hiệu M15/2021, gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0612 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định ngoài lần bán ma túy bị bắt quả tang thì lúc khoảng 14 giờ ngày 11 tháng 4 năm 2021 bị cáo Lý Tường C1 đã bán trái phép chất ma túy cho Tô Trí H với số tiền 200.000 đồng, H đã trả tiền cho C1, C1 đã dùng hết số tiền vào việc tiêu sài cá nhân, H đã một mình sử dụng hết ma túy.

Tại Cáo trạng số 17/CT-VKS, ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố bị cáo Lý Tường C1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật hình sự kết tội bị cáo Lý Tường C1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với mức hình phạt từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng.

Tại phiên tòa bị cáo Lý Tường C1 khai nhận: Vào ngày 11 tháng 4 năm 2021 tại nhà Huỳnh Văn T1 ở ấp Quảng Phú, xã Tân Hưng Tây, huyện Phú Tân, tỉnh Cà mau bị cáo có bán ma túy cho Tô Trí H hai lần, lần thứ hai đang bán ma túy cho Tô Trí H thì bị bắt quả tang. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 11 tháng 4 năm 2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Lý Tường C1 có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Tô Trí H hai lần cụ thể vào khoảng 14 giờ và 20 giờ 20 phút ngày 11 tháng 4 năm 2021 và bị bắt quả tang. Theo kết quả giám định số ma túy mà bị cáo bán cho H thu giữ được có tổng trọng lượng 0,0612 gam chứa thành phần Methamphetamine. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bản thân bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện, tạo cảm giác ảo đối với hệ thần kinh của con người, đồng thời bị cáo cũng biết Nhà nước nghiêm cấm hành vi mua bán, nhöng bò caùo vaãn coá tình mua baùn nhieàu laàn vôùi muïc ñích tö lôïi nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố bị cáo Lý Tường C1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm phạm an ninh trật tự xã hội, xâm phạm sức khỏe và sự phát triển bình thường của con người; bị cáo nhận thức và biết được tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần có một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo để bị cáo lao động, học tập trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần vì sau khi bị cáo bị bắt phạm tội quả tang bị cáo đã tự khai ra lần phạm tội trước đó của bị cáo; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm r, s Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt như trên đối với bị cáo là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử đồng xét xử chấp nhận.

Đối với Huỳnh Văn T1, quá trình điều tra bị cáo Lý Tường C1 khai nguồn gốc ma túy mà C1 bán là của Huỳnh Văn T1, tuy nhiên qua điều tra chưa đủ căn cứ để xác định Huỳnh Văn T1 có liên quan nên Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Tân chưa xử lý là phù hợp.

Vật chứng của vụ án: Một phong bì hoàn mẫu số 108/GĐH-PC09, ngày 13 tháng 4 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên Giám định viên Dương Hải Đăng, người chứng kiến Ngô Phương Loan và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự đóng giáp lai niêm phong. Bên trong có phong bì niêm phong mẫu ký hiệu M15/2021 gửi giám định, bọc ni long dùng để chứa tinh thể màu trắng ký hiệu M15/2021 gửi giám định; 01 điện thoại di động, hiệu VIVO, màu bạc, bị nứt màng hình, bên trong có sim số 0915180048; 01 điện thoại Itel, bàn phím, màu đen bên trong có sim số 0847429439; 01 cái dĩa nhựa màu vàng nhạt. Đây là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 100.000 đồng, Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Tân đã gửi vào tài khoản của Công an huyện Phú Tân tại Kho bạc Nhà nước huyện Phú Tân. Xét thấy đây là tiền dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Ngoài ra bị cáo có bán ma túy cho cho H thu lợi bất chính 200.000 đồng nên buộc bị cáo nộp tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với một sim số 0815586743 qua điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Lý Tường C1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho bị cáo C1 là phù hợp.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Lý Tường C1 phải nộp 200.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: Điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Lý Tường C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

* Xử phạt: Bị cáo Lý Tường C1 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính ngày 12 tháng 4 năm 2021.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo Lý Tường C1 nộp tiền thu lợi bất chính là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) sung ngân sách Nhà nước

Tịch thu số tiền 200.000đ sung ngân sách Nhà nước.

Số tiền nêu trên Công an huyện Phú Tân đã nộp vào tài khoản của Công an huyện Phú Tân số tài khoản: 3949.0.9058744.00000 tại Kho bạc nhà nước huyện Phú Tân theo giấy nộp tiền ngày 16 tháng 4 năm 2021. Công an huyện Phú Tân có trách nhiệm chuyển số tiền nêu trên cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tịch Thu tiêu hủy một phong bì hoàn mẫu số 108/GĐH-PC09, ngày 13 tháng 4 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên Giám định viên Dương Hải Đăng, người chứng kiến Ngô Phương Loan và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự đóng giáp lai niêm phong. Bên trong gồm: phòng bì niêm phong mẫu ký hiệu M15/2021 gửi giám định, bọc ni long dùng để chứa tinh thể màu trắng ký hiệu M15/2021 gửi giám định. 01 cái dĩa nhựa màu vàng nhạt.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, hiệu VIVO, màu bạc, dã qua sử dụng, bị bể màng hình, số IMEL1: 864655039353533, số IMELI2: 864655039353525 bên trong có sim số 0915180048. 01 điện thoại Itel, bàn phím, màu đen, số IMEl: 358625108444367 và 358625108444376 bên trong có một sim số 0847429439;

Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án huyện Phú Tân quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ-VKS ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân và biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28 tháng 5 năm 2021 giữa Công an huyện Phú Tân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân.

- Căn cứ Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lý Tường C1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Tô Trí H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ