vanban.org

Bản án 15/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 02/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thế B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Thế B 06 (Sáu ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (16/11/2020). Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23, mục 1 phần I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thế B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/HS – ST
Ngày: 02 – 02 – 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tĩnh

2. Ông Nguyễn Quang Học

- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Huy Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Kim Duy Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2021, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2021/TLST – HS ngày 04 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST – HS ngày 21 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Thế B – Sinh năm: 1998 tại phường BM, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa; HKTT: Tổ dân phố Th, phường BM, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông: Lê Thế Tr – Sinh năm: 1974 và bà Nguyễn Thị Q – Sinh năm: 1974; Vợ: Trương Bạch V – Sinh năm: 2000; Có 01 con nhỏ sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 19/12/2020 bị Công an thị xã Nghi Sơn xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 15/11/2020 tại thôn Th, phường BM, thị xã Nghi Sơn.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/11/2020 đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Khắc H– Trợ giúp viên pháp lý – Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 7, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa (Có mặt)

* Ngƣời bị hại: Chị Lê Thị D – Sinh năm: 1975; Trú tại: Tổ dân phố TĐ, phường HT, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Vắng)

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Đ – Sinh năm: 1989; Trú tại: Tổ dân phố TH, phường HB, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Vắng)

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h00’ ngày 14/11/2020, Lê Thế B đi sang nhà ông bà ngoại ở tổ dân phố TĐ, phường HT, thị xã Nghi Sơn để chơi. Khi đi đến nhà chị Lê Thị D – Sinh năm 1975, là bác dâu của B (ở gần nhà ông ngoại B). B thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu bạc, xám, đen, biển kiểm soát: 36C1 – 027.76 đang dựng trước sân nhà chị D; B đi lại cửa chính thì thấy mọi người đã ngủ trưa, chìa khóa xe để ở tủ kính gần đó nên B đã lấy chìa khóa, mở và điều khiển xe về khu vực phường Hải Bình, thị xã Nghi Sơn. Khi B đi đến quán mua bán, sửa chữa xe máy “Lâm Đồng” do anh Nguyễn Văn Đ – Sinh năm 1989 (ở tổ dân phố TH, phường HB, thị xã Nghi Sơn) làm chủ. B bán chiếc xe trên cho anh Đ với giá 3.200.000đ (Đăng ký xe có ở trong cốp xe, B nói dối với Đồng là xe của ông cho mình và ông đã chết). Toàn bộ số tiền bán xe B đã tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 16/11/2020, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Lê Thế B đã đến Công an thị xã Nghi Sơn đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Kết luận định giá tài sản số 126/KLĐGTS ngày 17/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Nghi Sơn kết luận: “01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe: Wave S màu bạc, xám, đen, BKS: 36C1 – 027.76, xe vẫn hoạt động bình thường, có giá trị còn lại là: 6.500.000 đồng”.

Đối với Nguyễn Văn Đ đã có hành vi mua chiếc xe mô tô BKS: 36C1 – 027.76 của Lê Thế B, tuy nhiên, khi mua xe anh Đ không biết tài sản trên là do B trộm cắp mà có nên hành vi của anh Đ không cấu thành tội phạm.

Về vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã tiến hành tạm giữ những đồ vật sau: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave S, màu bạc, xám, đen, BKS: 36C1 – 027.76, số khung: 43189Y067418, số máy: JC43E0599450, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường.

Xử lý vật chứng:

Ngày 21/11/2020, Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Lê Thị D: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave S, màu bạc, xám, đen, BKS: 36C1 – 027.76, số khung: 43189Y067418, số máy: JC43E0599450, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường.

Phần dân sự: Chị Lê Thị D đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu, đề nghị gì và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho cáo.

Gia đình bị cáo Lê Văn B đã trả lại số tiền bán xe cho anh Đ là 3.200.000đ, anh Đ không có yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số: 14/CT – VKS – HS ngày 29/12/2020 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Thế B về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

*Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo Lê Thế B là từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù từ tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (16/11/2020).

- Về phần dân sự và xử lý vật chứng: Đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn xử lý theo quy định của pháp luật nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

*Quan điểm của bà Mai Thùy Linh và ông Lê Khắc Htrợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Lê Thế B đề nghị HĐXX xem xét cụ thể:

- Về tội danh: Người bào chữa đồng ý với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Lê Thế B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

- Về nguyên nhân phạm tội: Bị cáo Lê Thế B chỉ vì một chút lòng tham, không làm chủ được mình, lại không có nghề nghiệp ổn định, không có tiền tiêu xài nên đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người bị hại (cũng là bác dâu) để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mang bán lấy tiền tiêu xài. Tuy nhiên, sau khi biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên bị cáo đã tác động gia đình đến chuộc lại tài sản trra cho người bị hại và ra Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn xin đầu thú. Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

- Về mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS cho bị cáo Lê Thế B được hưởng mức án thấp nhất của mức mà VKS đề nghị.

- Về hình phạt bồ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị HĐXX tuyên theo quy định của pháp luật hình sự.

Bị cáo thống nhất với tội danh mà nay là VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố và quan điểm bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý, không có tranh luận gì. Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo Lê Thế B khai nhận: Khoảng 11h00’ ngày 14/11/2020, tại tổ dân phố TĐ, phường HT, thị xã Nghi Sơn, Lê Thế B đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu bạc, xám, đen, BKS: 36C1 – 027.76 của chị Lê Thị D – Sinh năm 1975 (trú tại tổ dân phố TĐ, phường HT, thị xã Nghi Sơn). Giá trị tài sản trộm cắp được định giá là 6.500.000đ.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cũng như lời khai tại CQĐT, phù hợp với lời khai của người bị hại và của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội.

Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận Lê Thế B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực về mọi mặt để nhận thức được hành vi “Trộm cắp tài sản” là hành vi phạm pháp luật và là tội phạm. Song, do lười biếng lao động nhưng lại muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử, buộc bị cáo phải chịu một hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra là cần thiết.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi biết hành vi của mình đã bị phát hiện, bị cáo đã đến Cơ quan Công an thị xã Nghi Sơn xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng thời tác động với gia đình đến chuộc lại xe để trả cho người bị hại, bị cáo cũng đã được người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên ngày 15/11/2020 bị cáo đã bị Công an thị xã Nghi Sơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000đ. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã khai nhận bản thân đã có hành vi sử dụng chất ma túy do bị bạn bè xấu rủ rê.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.

Căn cứ pháp luật hình sự, nghĩ cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian ngắn để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật mà cải tạo, sửa chữa bản thân làm người công dân có ích cho gia đình và cho xã hội. Đồng thời, qua đó cũng là để phòng ngừa tội phạm chung.

Về dân sự và xử lý vật chứng: Đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn xử lý xong theo quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bị cáo lại đang bị tạm giam. Nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt phụ đối với bị cáo.

Án phí: Buộc bị cáo Lê Thế B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Thế B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Lê Thế B 06 (Sáu ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (16/11/2020).

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23, mục 1 phần I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lê Thế B phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ