- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Dũng - phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (điều 146 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 Bộ luật hình sự 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 146 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/HS-ST Ngày: 28-4-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khởi
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Thanh Phương
2/ Bà Lương Thị Hồng Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vũ Tiên –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoài Vinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 03 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2021 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Văn D, Tên gọi khác: Không, Giới tính: Nam; Sinh năm: 1967, tại thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Khu vực L, phường Hi, thành phố N, tỉnh Hậu Giang; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông Nguyễn Văn C và bà Trương Thị P; Có vợ là Nguyễn Thị Kim L; Có 04 người; Tiền án, tiền sự: Không. Bị khởi tố vào ngày 15/12/2020 cho bị cáo tại ngoại đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Bị hại: Dương Thị Như Q, sinh năm: 28/3/2012
- Đại diện hợp pháp của bị hại Dương Thị Như Q: Ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị Kiều N là cha mẹ ruột của bị hại; Nơi cư trú: Khu vực L, phường Hi, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
- Bà Nguyễn Thị Kiều N ủy quyền cho ông Dương Văn H (Có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Minh K, là Trợ giúp viên pháp lý, của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hậu Giang. (Có mặt).
3. Đại diện trường tiểu học Lương Thế Vinh phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang: Ông Lê Quang H
Trú tại: Khu vực X, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc khoảng 17 giờ 15 phút ngày 04/12/2020 bị cáo Nguyễn Văn D đi từ nhà đến tiệm tạp hóa của chị Nguyễn Thị Kiều Nđể mua thuốc hút, bị hại Dương Thị Như Q lấy gói thuốc bán cho bị cáo. Khi mua thuốc hút xong, bị cáo quan sát thấy cháu Q ở nhà một mình nên bị cáo đi từ sau lưng bị hại dùng tay phải ôm giữ bị hại lại, sau đó dùng tay phải sờ vào vùng ngực của bị hại hai cái, hôn vào mặt bị hai một cái và dùng tay phải đưa vào bộ phận sinh dục của bị hại định bóp bộ phận sinh dục nhưng bị hại đẩy tay bị cáo ra, bị cáo tiếp tục dùng tay phải bóp vào mông của bị hại 01 cái rồi bỏ ra về. Bị hại Như Quỳnh kể lại sự việc trên cho ông Dương Văn Hậu là cha cháu Như Quỳnh đến Công an phường Hiệp Lợi tố giác hành vi phạm tội của bị cáo.
Ngoài ra bị cáo khai vào khoảng tháng 5 đến tháng 6 năm 2020 (không nhớ ngày cụ thể) bị cáo đến tiệm tạp hóa của chị Nguyễn Thị Kiều N để mua thuốc lá. Sau khi quan sát thấy cháu Như Q ở nhà một mình, bị cáo dùng tay sờ vào ngực của cháu Q hai lần, sau khi thực hiện hành vi xong bị cáo về nhà.
Bản cáo trạng số: 11/CT-VKS-TPNB ngày 26 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 146 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017). Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và thời gian thử thách là 60 tháng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Thống nhất về tội danh và điều khoản Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo cùng hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện hợp pháp của bị hại: Đồng ý với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy và Trợ giúp viên pháp lý về hình phạt đối với bị cáo và trách nhiệm dân sự không yêu cầu bồi thường thêm.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Đồng thời bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ngã Bảy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã xác định được: Bị cáo Nguyễn Văn D thường xuyên đến nhà bị hại để mua thuốc lá điếu, lợi dụng lúc bị hại ở nhà một mình, bị cáo Dũng đã thực hiện hành vi dâm ô đối với bị hại tại nhà của bị hại. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức được hành vi dâm ô đối với người bị hại là vi phạm pháp luật. Nhưng vì thỏa mãn dục vọng của bản thân, bị cáo bất chấp quy định của pháp luật và cố ý thực hiện hành vi đòi bại với bị hại. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại Điều 146 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017), nên cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
. Về tính chất của vụ án là nghiêm trọng và hành vi của bị cáo đã thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội. Vì bị cáo nhiều lần (02 lần vào khoảng tháng 5/2020 và ngày 04/12/2020) thực hiện dâm ô với bị hại là người chưa đủ 16 tuổi, đã trực tiếp xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của trẻ em được pháp luật bảo vệ. Do đó cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng pháp luật. Nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo qua việc thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện; bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng; Đại diện bị hại đồng ý giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo đề nghị của Kiểm sát Viên và trợ giúp viên pháp lý. Các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nên áp dụng hình phạt dưới khung liền kề theo quy Điều 54 Bộ luật hình sự 2015.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và chấp hành tốt quy định pháp luật tại địa phương trong thời gian tại ngoại; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2, Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét thấy bị cáo có đầy đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017). Vì vậy, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội khắc phục sửa chữa sai lầm trở thành công dân có ích cho xã hội.
. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy trình bày lời luận tội và đề nghị áp dụng điều luật, áp dụng mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 12/01/2021, bị cáo Nguyễn Văn D đã khắc phục hậu quả bồi thường về tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) do đại diện bị hại là ông Dương Văn Hậu nhận. Tại phiên tòa ông Hậu không yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xem không xem xét.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2, Điều 146; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Khoản 2, Điều 136; khoản 1, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Nghị quyết 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 Bộ luật hình sự 2015.
Khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Dâm ô với người dưới 16 tuổi”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 30 (ba mươi) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân phường Hiệp Lợi, thành phố Ngã Bảy quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo Dũng trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp Luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ thi hành án 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị hại, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND TP. Ngã Bảy; - Sở tư pháp tỉnh Hậu Giang; - Công an TP. Ngã Bảy; - Chi cục THADS TP. Ngã Bảy; - Bi cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hồ văn Khởi |