- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo HVN phạm tội “Trộm cắ p tà i sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/HS-ST Ngày 21-4-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ HVN VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐI ̣NH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Ngọc Thanh
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh , Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 4 năm 2021 tại Tru ̣ sở Tòa án nhân dân huyê ̣n Yên
Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa xét x ử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên : HVN - Sinh ngày: 02/01/1994 tại xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Viê ̣t Nam; Con ông HNC, sinh năm: 1965; Con bà HTB, sinh năm: 1971; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 2, bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2021 đến ngày 08/01/2021 thì được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh TĐH, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 05/01/2021, bị cáo HVN tham gia đá bóng tại Sân bóng đá Thành Phú, thuộc khu 4 Thị trấn Q, huyện Yên Định. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, đang trong thời gian nghỉ giải lao, HVN cùng mọi người ngồi nghỉ uống nước tại khu vực để đồ, phía hành lang bên phải sân bóng đá số 2 (Theo hướng từ cổng sân bóng đi vào). Khi đã hết thời gian nghỉ, mọi người quay trở lại sân để đá tiếp hiệp 2, nhưng HVN không vào luôn mà vẫn ngồi lại uống nước. Lúc này, HVN thấy tại khu vực để đồ có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, A92 màu đen, màn hình cảm ứng, không ai để ý trông coi, nên HVN nảy sinh ý định trộm cắp.
HVN lấy chiếc điện thoại này bỏ vào trong túi quần đùi bên phải của mình, rồi đi lại phía góc bên trái sân số 2, rút điện thoại ném ra ngoài khu vực sân bóng nhằm mục đích giấu, không để ai phát hiện. Sau đó, HVN quay lại tiếp tục đá bóng cùng mọi người. Khi hết trận đấu, anh TĐH là người cùng tham gia đá bóng, kiểm tra phát hiện mất chiếc điện thoại di động, đã tìm kiếm xung quanh nhưng không thấy nên anh đã đi trình báo với công an Thị trấn. Ngay khi nghe tin anh TĐH đã báo công an, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên HVN đã chủ động đi đầu thú và giao nộp lại tài sản trộm cắp cho cơ quan công an giải quyết.
Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Định xác định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, A92 màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra, bị cáo HVN đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, tang vật thu giữ cùng các tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 07 ngày 06/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Đi ̣nh đa truy tỗ
́ bị cáo HVN về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh g iữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử pha ̣t bị cáo HVN từ 07 đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo từ 14 đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án.
Về án phi : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
́ pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo HVN khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
̀
́ T XỬ :
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐÔNG XE
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo HVN đã thừa nhận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/01/2021, HVN đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, A92 màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng của anh TĐH, tài sản có giá trị theo định giá là 4.200.000đ.
Lờ i khai nhâ ̣n của bi ̣ cáo phù hợp vớ i l ời khai của bị hại, tang vật thu giữ cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo HVN đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo HVN không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã chủ động ra đầu thú và giao nộp lại tài sản trộm cắp để trả lại cho chủ sở hữu nhằm khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[4] Xét về tính chấ t, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội và hình phạt:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luâ ̣t hình sự bảo vệ. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Tuy nhiên, do tính chất của hành vi phạm tội là ít nghiêm trọng, nhất thời thực hiện hành vi phạm tội, bản thân bị cáo chưa từng có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân tốt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người lao động tự do, hiện nay đang đi làm và có thu nhập, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo ở mức phù hợp, đảm bảo tính răn đe.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Hiện nay bị cáo đã giao nộp lại chiếc điện thoại đã trộm cắp cho công an, cơ quan công an đã trả lại điện thoại cho anh TĐH quản lý sử dụng, anh TĐH không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra chỉ thu giữ của bị cáo 01 chiếc điện thoại là tang vật trộm cắp bị cáo đã chủ động giao nộp, hiện nay cơ quan điều tra đã trả lại tài sản này cho chủ sở hữu là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phi: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
́ pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 136, Điều 260, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố bị cáo HVN phạm tội “Trộm cắ p tà i sản”.
Xử pha ̣t bị cáo HVN 07 (Bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo HVN cho UBND xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm Nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Phạt bổ sung bị cáo HVN 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp Ngân sách nhà nước.
3. Về án phí: Bị cáo HVN phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 ngày kể từ ng ày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Yên Định; - Công an huyện Yên Định; - Bị cáo; bị hại; - Chi cục THADS Yên Định; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hoàng |