vanban.org

Bản án 15/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 03/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 341, điểm i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 36- Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Duy phạm tội "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức". Xử phạt: Bị cáo Nguyễn văn Duy 09(Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của c…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 341, điểm i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 36- Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH SƠN
TỈNH PHÚ THỌ
__________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/ HS-ST
Ngày 03/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Ngọc Ánh

Ông Nguyễn Gia Thắng

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh, cán bộ

Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn: Ông Trần Minh

Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 03/3/2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2021/HS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Hä vµ tªn: Nguyễn Văn D sinh ngày 13/5/1989 tại Thanh Sơn, Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu Gai, xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; D©n téc: Kinh; T«n gi¸o: Không; V¨n ho¸: 09/12; NghÒ nghiÖp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Bè ®Î: Nguyễn Mạnh Tấn, sinh năm 1959; MÑ ®Î: Nguyễn Thị Tuyến, sinh năm 1968. Hiện ở khu Gai, xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Vơ: Đới Thị Phượng, sinh năm 1997; Con: có 02 con, sinh năm 2000. Bố, mẹ, vợ, con đều sinh sống tại ở khu Gai, xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai. TiÒn ¸n, tiền sự: Kh«ng. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ từ ngày 17/01/2021 đến ngày 06/02/2021.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Bùi Mạnh Th - SN 1983 ( Vắng mặt).

Địa chỉ: Phố Tân Tiến, TT Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

2. Anh Nguyễn Sỹ C - SN 1968,( Vắng mặt).

Địa chỉ: Phố Ba Mỏ, TT Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2016 Nguyễn Văn D sinh năm 1989, ở khu Gai, xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã mua 01 chiếc ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, BKS 19C-091.25 và mang đi thế chấp tại ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Phú Thọ để vay 600.000.000đồng. Do không có tiền trả lãi cho Ngân hàng nên ngân hàng không cấp giấy xác nhận cho Duy lưu hành xe . Khoảng tháng 06/2017 Duy lên “Facebook” đặt làm giả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 19C-091.25 giả để phục vụ cho việc đi lại và tham gia giao thông hàng ngày của bản thân. Đến ngày 21/01/2019, do cần tiền nên Nguyễn Văn Duy đã đến gặp Bùi Mạnh Thắng, sinh năm 1983, ở thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ nói là muốn bán chiếc xe Ford Ranger, BKS 19C-091.25 đang được thế chấp vay vốn tại Ngân Hàng TMCP Công thương chi nhánh Phú Thọ . Thắng nói với Duy là sẽ đồng ý mua xe nếu đầy đủ giấy tờ pháp lý chứng minh chủ sở hữu và có xác nhận của chính quyền địa phương. Ngày 21/01/2019 Duy đến gặp Thắng để thỏa thuận việc mua bán xe ô tô BKS 19C-091.25 . Duy đã đưa cho Thắng 01 giấy mua bán, cho tặng ô tô có xác nhận chữ ký người bán của UBND xã Sơn Hùng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 19C-091.25 ( chứng nhận đăng ký xe giả) mang tên Nguyễn Văn Duy, địa chỉ khu Gai, xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ và nói với Thắng là bản “scan” dung để đi lại. Thắng xem xét giấy mua bán, cho tặng và chứng nhận đăng ký xe ô tô thấy đúng thông tin về chủ sở hữu và đặc điểm của xe nên đã đồng ý mua và thanh toán với số tiền là 510.000.000đồng.

Tháng 9/2019 do cần phương tiện đi lại nên Duy mượn lại chiếc xe đã bán cho anh Thắng để sử dụng. Tháng 6/2019 Duy trả hết tiền vay ngân hàng TMCP công thương Phú Thọ; anh Thắng và Duy thống nhất để Duy sẽ bán ô tô BKS 19C-091.25 và trả lại anh Thắng số tiền 510.000.000đồng, Duy đưa trước cho anh Thắng số tiền 50.000.000đồng; Số tiền còn lại sẽ trừ vào số tiền anh Thắng mua cát của Duy là 402.000.000đồng, còn lại 58.000.000đồng Duy nợ lại anh Thắng. Sau đó Duy đã bán chiếc xe ô tô BKS 19C-091.25 cho anh Nguyễn Sỹ Công, sinh năm 1968, ở thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ với số tiền 610.000.000đồng. Biết Duy đã bán xe mà không trả nốt tiền cho mình nên anh Thắng đã mang giấy tờ mua bán và giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đến phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh Phú Thọ để làm thủ tục sang tên. Phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh Phú Thọ phát hiện giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 19C-091.25 có dấu hiệu làm giả nên đã làm công văn đề nghị Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Phú Thọ giám định tài liệu đối với giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô trên. Kết quả giám định thể hiện giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô là giả.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Văn Duy khai nhận: Do chậm trả lãi ngân hàng nên ngân hàng không cấp giấy xác nhận lưu hành xe ô tô của Duy đang thế chấp vay tiền tại ngân hàng. Để tiện cho việc đi lại cá nhân khoảng tháng 6/2017 Duy dã lên “ Facebook” và sử dụng tài khoản của mình và liên hệ được với trang “ nhận làm các loại giấy tờ” để đặt làm giả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 19C-091.25 với chi phí 300.000đồng. Khoảng 01 tháng sau Duy nhận được giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả thông qua một người đàn ông liên hệ với Duy qua số điện thoại. Duy đã sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe giả để tham gia giao thông và làm hợp đồng mua bán xe với anh Bùi Mạnh Thắng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án, khới tố bị can đối với Nguyến Văn Duy về tội “ sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1, Điều 341 BLHS.

Tại bản cáo trạng số: 06/CT – VKS-ThS ngày 20/01/2021 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Duy về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 ®iÒu 341 cña Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị HĐXX:

Áp dụng: khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Duy phạm tội "sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Duy từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ 5 đến 10% thu nhập của bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

* Về xử lý vật chứng:

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu lưu hồ sơ vụ án các vật chứng cơ quan Điều tra đã thu giữ chuyển theo hồ sơ vụ án gồm: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả Biển số: 19C091.25(số 013896) tên chủ xe Nguyễn Văn Duy, có địa chỉ khu Gai, Sơn Hùng, Thanh Sơn, Phú Thọ. Nhãn hiệu xe Ford; số loại Ranger màu trắng.

Bị cáo không tranh luận gì đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo không nói lời sau cùng trước khi HĐXX nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy như sau:

Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Vụ án được Cơ Quan Điều tra và Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, điều tra, truy tố. Ngày 20/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ ra Quyết định số 01/VKSPT-P2, phân công Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án. Ngày 22/01/2021 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn xét xử vụ án theo thẩm quyền.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã thể hiện quan điểm tại cơ quan điều tra. Việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292- Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Cáo trạng số 06/CT-VKSPT-P2, ngày 20/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Văn Duy tội “ sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” qui định tại khoản 1 Điều 341- BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội bởi lẽ: Bị cáo Duy là người đã thành niên, có đủ khả năng để nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết rõ việc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý sử dụng giấy tờ ô tô giả do bị cáo đặt làm trên Facebook để sử dụng xe ô tô đã thế chấp Ngân hàng làm phương tiện đi lại và thực hiện giao dịch dân sự khác. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và không có lời bào chữa nào khác. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, đủ cơ sở kết qui kết bị cáo tội : “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt qui định tại khoản 1 Điều 341- BLHS.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, sự hoạt động đúng đắn bình thường và uy tín của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước. Hành vi của bị cáo còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo nghiêm minh, tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đã phân tích và đánh giá tại Bản luận tội là có căn cứ vì: Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51- BLHS.

. Căn cứ vào nhân thân, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX xét thấy mức hình phạt chính, phạt bổ sung Kiểm Sát Viên đề nghị tại Bản luận tội là phù hợp bởi lẽ : Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành đúng chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú và có khả năng tự cải tạo nên phạt bị cáo hình phạt cải tạo tạo không giam giữ và khấu trừ một phần thu nhập từ 5 đến 10% hàng tháng, tính theo mức lương cơ sở hiện hành cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo thành người công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 điều 341 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy bị cáo không có tài sản gì (BL72), thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung với bị cáo là phù hợp.

. Vật chứng: Các tài liệu Cơ quan điều tra thu giữ lưu tại hồ sơ gồm: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả Biển số: 19C091.25(số 013896) tên chủ xe Nguyễn Văn Duy, có địa chỉ khu Gai, Sơn Hùng, Thanh Sơn, Phú Thọ. Nhãn hiệu xe Ford; số loại Ranger; màu trắng không có giá trị sử dụng nên tịch thu lưu hồ sơ vụ án là có căn cứ.

. Các nội dung khác:

Lệnh cấm khỏi nơi cư trú số 06/LCCT-VKS-P2, ngày 15/01/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ áp dụng đối với bị cáo Duy đã hết hiệu lực nên HĐXX không xem xét.

Đối Với Bùi Mạnh Thắng do không biết giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô là giả, do đó cơ quan điều tra không sử lý Thắng về hành vi sử dụng giấy tờ giả là phù hợp .

Đối với đối tượng làm giấy tờ giả và người lái xe ôm mà Duy khai, Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể của đối tượng nên HĐXX không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 341, điểm i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 36- Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Duy phạm tội "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn văn Duy 09(Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã Sơn Hùng- huyện Thanh Sơn- tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Khấu trừ 10% thu nhập của bị cáo Duy, tính theo mức lương cơ sở hiện hành = 149.000đ(Một trăm bốn chín nghìn đồng)/tháng, tương ứng với thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Trường hợp các bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo qui định tại khoản 4 Điều 36- BLHS.

Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ qui định tại Điều 99- Luật thi hành án hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo được thực hiện theo khoản 2 điều 100- Luật Thi hành án Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo qui định tại khoản 4 Điều 341- BLHS đối với bị cáo Duy.

* Vật chứng :

Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả Biển số: 19C091.25(số 013896) tên chủ xe Nguyễn Văn Duy, có địa chỉ khu Gai, Sơn Hùng, Thanh Sơn, Phú Thọ. Nhãn hiệu xe Ford; số loại Ranger; màu trắng.

* Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Duy phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại UBND thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm .

Trường hợp Bản án thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 2 - luËt thi hµnh ¸n d©n sù th× người được thi hµnh ¸n d©n sù, người ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn Thi hµnh ¸n hoÆc bÞ cưỡng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7 vµ ®iÒu 9 luËt thi hµnh ¸n d©n sù. Thêi hiÖu thi hµnh ¸n được thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 30 luËt thi hµnh ¸n d©n sù./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ