vanban.org

Bản án 15/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 16/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bổ sung số tiền 5.

Giao bị cáo Lý Thị Nh cho Ủy ban nhân dân xã Tịnh Đ, huyện Sơn T, tỉnh Quảng Ngãi để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo Lý Thị Nh thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thị Nh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bổ sung số tiền 5.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN S
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/HS-ST.
Ngày 16-11-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh K Lít.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nguyệt.

2. Ông Tô Cấn.

Thư ký phiên toà: Ông Đặng Anh Tuấn, Thư ký Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện S xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/QĐXXST-HS ngày 04/11/2021 đối với bị cáo:

Lý Thị Nh, sinh ngày 10/10/1981 tại huyện Sơn T, tỉnh Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Thôn Đồng N, xã Tịnh Đ, huyện Sơn T, tỉnh Quảng Ngãi.

Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý A và bà Nguyễn Thị S (chết).

Chồng: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1975.

Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 18/10/2021, có Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Bị hại: 1/ Bà Đinh Thị Tr, sinh năm 1988.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Sơn G, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

2/ Ông Đinh Văn M, sinh năm 1988.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Sơn G, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại bà Đinh Thị Tr: Bà Bùi Thị Thuyết Anh - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

Người phiên dịch: Ông Đinh Văn Th - Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị trấn D. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 28/7/2021, Lý Thị Nh đi phụ hồ tại Công trình xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã Sơn T thuộc thôn L, xã Sơn T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Lý Thị Nh đi ngang qua dãy nhà làm việc của Ủy ban nhân dân xã đang xây dựng thì thấy 01 chìa khóa xe mô tô nằm dưới nền phòng, Nhung biết đây là chìa khóa xe mô tô của bà Đinh Thị Tr, vì trước đó Nh đã thấy bà Tr để đồ cá nhân trên phòng này. Lúc này, Nh để ý không có ai nên vào phòng nhặt chiếc chìa khóa, đồng thời nảy sinh ý định dùng chìa khóa mở cốp xe để trộm cắp tài sản của bà Tr để trong cốp. Để thực hiện ý định, Nh cầm chìa khóa và đi đến vị trí chiếc xe máy của bà Tr đang để trong khuôn viên Ủy ban nhân dân xã. Nh quan sát xung quanh thấy không có ai nên dùng chìa khóa mở cốp xe mô tô biển số 76M1-200.04 của bà Tr thì thấy 01 túi ni lông màu vàng, bên trong có tiền, Nh lén lút lấy túi ni lông này bỏ vào giỏ xách đi chợ đã cầm sẵn trên tay để cất giấu rồi nhanh chóng đóng cốp xe lại, rút chìa khóa rồi đi đến khu đất trống ở phía sau Ủy ban nhân dân xã vứt chìa khóa này tại đây, sau đó về nhà của Nh tại xã Tịnh Đ, huyện Sơn T. Đến 21 giờ cùng ngày, thấy trong nhà không có ai nên Lý Thị Nh lấy túi ni lông đựng tiền đã trộm cắp được để kiểm đếm thì thấy bên trong có tổng số tiền 4.000.000 đồng và các giấy tờ cá nhân của bà Đinh Thị Tr, gồm: 03 thẻ bảo hiểm y tế, 02 bản phô tô giấy chứng minh nhân dân mang tên Đinh Thị Tr và Đinh Văn M, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 76M1-200.04, 02 giấy bảo hiểm xe máy và 01 phiếu bảo hành xe máy. Nh lấy số tiền 4.000.000 đồng bỏ vào ví cá nhân cùng với số tiền 700.00 đồng của mình, các giấy tờ khác thì Nh bỏ vào thùng rác sinh hoạt gia đình.

Đến ngày 29/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiến hành làm việc với Lý Thị Nh, quá trình làm việc thì Nh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, giao nộp lại số tiền và các giấy tờ đã trộm cắp được.

Bản Cáo trạng số: 18/CT-VKS-SH ngày 11/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố bị cáo Lý Thị Nh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Thị Nh từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm nghề phụ hồ, không có thu nhập ổn định nên không đề nghị xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trả lại cho bà Đinh Thị Tr nhận, gồm:

+ Số tiền 4.000.000 đồng;

+ 03 thẻ bảo hiểm y tế;

+ 02 bản phô tô giấy chứng minh nhân dân mang tên Đinh Thị Tr và Đinh Văn M;

+ 02 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe mô tô biển số 76M1-200.04;

+ 01 phiếu bảo hành xe máy của hãng xe máy Head Honda Hoàn Phước;

+ 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 76M1-200.04 mang tên Đinh Văn M;

+ 01 túi ni lông màu vàng, có dòng chữ PHÒNG KHÁM SẢN PHỤ KHOA - SIÊU ÂM- BS. BÙI THỊ XUÂN D;

+ 01 chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda bằng kim loại;

Đối với đồ vật, tài sản tạm giữ của Lý Thi Nh, gồm: 01 giỏ xách nhựa màu đỏ, phần dưới giỏ có dòng chữ VIỆT THANH và số tiền 700.00 đồng. Xác định đồ vật và số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lý Thị Nh nhận.

- Về phần dân sự: Quá trình điều tra, bà Đinh Thị Tr đã nhận lại số tiền 4.000.000 đồng cùng các giấy tờ khác, không có yêu cầu gì thêm, nên không đề nghị xem xét.

Bị cáo không ý kiến tranh luận gì.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lý Thị Nh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Về dân sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cũng không ý kiến gì.

Bị hại nhất trí với ý kiến tranh luận của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Tòa án xét xử đúng pháp luật và đồng thời có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại không ý kiến gì về việc Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo là xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngay sau khi có tin tố giác tội phạm của công dân, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền điều tra, thời hạn điều tra để điều tra, hỏi cung bị can, lấy lời khai bị hại..., thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa cũng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Vì muốn có tiền tiêu xài bất chính, nên vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 28/7/2021, bị cáo Lý Thị Nh lợi dụng bà Đinh Thị Tr làm rơi chìa khóa xe mô tô mang biển số 76M1-200.04, bị cáo đã sử dụng chìa khóa mở cốp xe mô tô của bà Tr, lén lút trộm cắp số tiền 4.000.000 đồng và một số giáy tờ tùy thân khác của bà Tr để trong cốp xe. Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo Lý Thị Nh là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Với những hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Nay, Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố bị cáo Lý Thị Nh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Những lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lý Thị Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà pháp luật bảo vệ nên cần phải xử lý nghiêm.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khắc phục hậu quả; bị hại cũng có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội hành vi phạm tội của bị cáo, không cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và cũng đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Bị cáo có nghề làm phụ hồ, có thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền 5.000.000 đồng đối với bị cáo Lý Thị Nh là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trả lại tài sản, giấy tờ tùy thân cho bị hại nhận; trả lại tài sản, đồ vật cho bị cáo nhận là có căn cứ. Hội đồng xét xử không xem xét.

Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Lý Thị Nh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; khoản 5 Điều 173 và khoản 2 Điều 35 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Tuyên bố bị cáo Lý Thị Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo Lý Thị Nh 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng chẵn) đối với bị cáo Lý Thị Nh.

Giao bị cáo Lý Thị Nh cho Ủy ban nhân dân xã Tịnh Đ, huyện Sơn T, tỉnh Quảng Ngãi để giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo Lý Thị Nh thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí: Buộc bị cáo Lý Thị Nh phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ