- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vì văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 107 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA Bản án số: 15/2021/HS-ST Ngày 30 /11/ 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà:Ông Hà Minh Quân
Các hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Đức Việt; Ông Phùng Quốc Quân.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thảo Nguyên –Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số16/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
VÌ VĂN L. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01/01/2001 tại huyện A, tỉnh Sơn La.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản X, xã Y, huyện A, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Xinh Mun; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vì Văn M, sinh năm 1975 và bà: Vì Thị M, sinh năm1976; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 13/6/ 2019, Vì Văn L bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 06 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/03/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/09/2021 đến nay, giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Mai Sơn. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Lò Văn H, sinh năm 2002. Địa chỉ: Bản N, xã Y, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
- Lò Văn H1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Bản V, xã Y, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Tự H2, sinh năm 1975. Địa chỉ: Bản M, xã Y, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Doãn Văn H3, sinh năm 1968. Địa chỉ: Bản V, xã Y, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
+ Nguyễn Thị V, sinh năm 1978. Địa chỉ: Bản V, xã Y, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa..
+ Lò Thị S, sinh năm 1982. Địa chỉ: Bản V, xã Y, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/09/2021, Vì Văn L đi đến nhà Lò Văn H (sinh năm 2002, trú tại bản N, xã Y, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La) chơi và ngủ lại. Đến khoảng 11 giờ ngày 15/9/2021, lợi dụng khi vợ chồng H đi vắng L đã ra chuồng gà trộm cắp 06 quả trứng gà và 01 con gà mái lông màu nâu vàng, nặng khoảng 1,2 kg. Sau đó, L lấy 06 quả trứng gà luộc ăn tại nhà H còn con gà L mang đến nhà bán cho Doãn Văn H3, sinh năm 1968, trú tại Bản V, xã Y, huyện Mai Sơn với giá 120.000 VNĐ (L nói với H3 là gà của gia đình). Tiền bán gà L đã chi tiêu cho cá nhân hết 80.000 VNĐ. Đến khoảng 17 giờ ngày 15/9/2021, L đi bộ trên đường dân sinh thì gặp Lò Văn M, sinh năm 1951, trú tại Bản V, xã Y, huyện Mai Sơn mời đến nhà chơi, ăn cơm tối. Khoảng 23 giờ cùng ngày, L đi về theo hướng bản T, xã Y, huyện Mai Sơn được khoảng 300m, L thấy dưới gầm sàn nhà của gia đình Lò Văn H1, sinh năm 1974, trú tại bản V, xã Y, huyện Mai Sơn ở ven đường có dựng 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xanh đen, biển kiểm soát 26K1 - 143.00, L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân nên đã vào nhà anh H1 dắt xe đi về hướng bản T, xã Y, huyện Mai Sơn. Đi được khoảng 500m thì L dừng lại dùng tay tháo hai bên yếm chắn gió, mặt nạ, gương chiếu hậu bên trái của chiếc xe nhằm thay đổi đặc điểm của chiếc xe. Sau đó, L tháo cao su bảo vệ ổ khóa điện rồi giật đứt dây điện ổ khóa để đấu nối dây điện nhằm khởi động xe mô tô nhưng không được nên L đã bỏ xe mô tô Sirius lại rồi vứt hai bên cánh yếm, mặt nạ, gương chiếu hậu, cao su ổ khóa điện, dây diện của ổ khóa cùng đôi dép cao su bị đứt ở lề đường cách vị trí dựng xe mô tô khoảng 05m. Sau đó L nhớ ra khi đi qua nhà Nguyễn Tự H2, sinh năm 1975, trú tại bản V, xã Y, huyện Mai Sơn thấy 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 26K1 - 157.60 đang dựng ở hiên nhà quán tạp hóa. Nên L đã quay lại, đến trước cửa quán nhà H2. Quan sát thấy mọi người đã đi ngủ nên L đã dắt xe mô tô Wave đi theo hướng bản T, xã Y, huyện Mai Sơn. Khi đi qua vị trí xe mô tô hiệu Sirius đã trộm cắp trước đó khoảng 20m thì dừng lại và tìm cách khởi động xe mô tô Wave nhưng không được. L đã bỏ lại chiếc xe xe mô tô Wave rồi đi bộ đến nhà Lò Văn C, sinh năm1985, trú tại bản N, xã Y, huyện Mai Sơn ngủ nhờ. Sau khi nhận được tin báo của người bị hại là Nguyễn Tự H, Công an xã Y, huyện Mai Sơn đã triệu tập Vì Văn L đến làm việc tại Công an xã Y, L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp 40.000VNĐ là số tiền còn lại sau khi bán gà, số tiền 80.000VNĐ Vì Văn L đã chi tiêu cá nhân hết nên không thu giữ được.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đã thu giữ:
01 xe mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn xanh đen, biển kiểm soát 26K1-143.00; 01 caosu bảo vệ khóa điện xe mô tô bị đứt; 01 đoạn dây điện đôi dài 15cm, một đầu dây điện đôi có rắc nối, đầu còn lại bị đứt; 02 cánh yếm chắn gió xe mô tô màu xanh đen, hiệu YAMAHA, cạnh trong của hai cánh yếm bị vỡ nhiều chỗ; 01 mảnh nhựa màu xanh đen là mặt nạ xe mô tô.
01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE, màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát 26K1-157.60; 01 đôi dép xỏ ngón màu xanh, quai đen có chữ nike, quai trước chiếc dép bên phải bi đứt; 01 chiếc balo màu đen, họa tiết màu đỏ trắng và 40.000VNĐ.
Ngày 20/09/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đã ra yêu cầu định giá tài sản số 510 định giá đối với những tài sản mà Vì Văn L đã trộm cắp.
Tại bản kết luận định giá tài sản số:1026/KL-HĐ, ngày 22/09/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Mai Sơn kết luận trị giá tài sản bị trộm cắp do Vì Văn L thực hiện:
“01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE, màu sơn xanh- đen- bạc, BKS: 26K1-157.60 đã qua sử dụng có giá trị 7.000.000 đồng
01 xe mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS , màu sơn xanh- đen, BKS: 26K1-143.00 đã qua sử dụng có gias trị 4.000.000 đồng
01 con gà mái có trọng lượng 1,2kg có giá trị 168.000 đồng
06 quả trứng có giá trị 30.000 đồng
Tổng giá trị: 11.198.000 đồng”.
Ngày 12/10/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn ra yêu cầu định giá tài sản số 518 yêu cầu định giá thiệt hại tài sản đối với xe mô tô hiệu HONDA WAVE, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 26K1-157.60 và xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu xanh đen, biển kiểm soát 26K1-143.00.
Tại kết luận giám định tài sản số 1113/KL-HĐ của Hội đồng định giá UBND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La ngày 12/10/2021 kết luận:
“ Thiệt hại về tài sản đối với xe mô tô hiệu HONDA WAVE, màu xanh đen bạc, biển kiếm soát: 26K1-157.60 là 40.000 đồng;
Thiệt hại về tài sản đối với xe mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS, màu xanh đen, biển kiểm soát: 26K1-143.00 là 370.000 đồng;
Tổng thiệt hại về tài sản đối với 02 xe mô tô nêu trên là 410.000 đồng”.
Ngày 02/11/2021, cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn đã ban hành quyết định trưng cầu giám định 40.000 VNĐ thu giữu của L.
Tại kết luận giám định số 1737 ngày 04/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “40.000VNĐ thu giữ của L là tiền thật”.
Tại bản cáo trạng số: 94/CT-VKSMS ngày 15/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Vì Văn L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vì Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Vì Văn L từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc balo màu đen, họa tiết màu đỏ – trắng, đã qua sử dụng cũ; 01 chiếc áo cộc tay cổ tròn màu đen, họa tiết màu xanh, đã qua sử dụng cũ; 01 chiếc quần dài màu xám, đã qua sử dụng cũ.
Tịch thu xung công quỹ nhà nước số tiền 40.000 đồng đựng trong 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La phát hành được niêm phong dán kín theo quy định, được dán giấy niêm phong số 038730 của công an tỉnh Sơn La có đầy đủ chữ ký giáp lai của thành phần tham gia niêm phong.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho gia đình người bị hại: Lò Văn H1 01 xe mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 26k1 – 143.00.
Trả cho gia đình ông Nguyễn Tự H2 01 xe mô tô hiệu HONDA – WAVE, màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát 26K1-157.60
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận yêu cầu của bị hại Lò Văn H1 về việc yêu cầu Vì Văn L bồi thường thiệt hại về tài sản đối với xe mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS, màu xanh đen, biển kiểm soát 26k1- 143.00 bị hư hỏng với số tiền là 370.000VNĐ.
Đối với các bị hại ông Nguyễn Tự H2 đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Nên không xem xét về vấn đề bồi thường
Đối với ông Lò Văn H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Nên không xem xét về vấn đề bồi thường
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vì Văn L đã trình bày đúng với nội dung bản cáo trạng số của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Bị cáo Vì Văn L tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vì Văn L khai nhận:
Ngày 13/09/2021 Vì Văn L đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 06 quả trứng và 01 con gà của gia đình anh Lò Văn H trị giá 198.000VNĐ; 01 xe mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn xanh-đen, BKS: 26K1-143.00 của gia đình anh Lò Văn H1 có giá trị 4.000.000 đồng và 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE, màu sơn xanh- đen- bạc, BKS: 26K1-157.60 của gia đình anh Nguyễn Tự H2 có giá trị 7.000.000 đồng
Tổng trị giá tài sản bị cáo trộm cắp là 11.198.000 VNĐ.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thuẫn.
Hành vi này của bị cáo Vì Văn L đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản, được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Tội trộm cắp tài sản.
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…”
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, dân sự. Bị cáo nhận thức rõ được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu rèn luyện, tu dưỡng và mong muốn có tài sản tiêu xài, không phải lao động mà bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương. Khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã thưc hiện L tiếp hai hành vi trộm cắp tài sản. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm, tài sản bị cáo trộm cắp đã đươc thu hồi và trả lại cho người bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự sẽ được Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo khi xem xét mức hình phạt.
Về nhân thân: ngày 13/6/ 2019, Vì Văn L bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 06 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/03/2020; Tại thời điểm phạm tội trước bị cáo Vì Văn L chưa đủ 18 tuổi, phạm tội ít nghiêm trọng. Căn cứ vào điểm b, khoản 1, điều 107 Bộ Luật Hình sự năm 2015 bị cáo đươc coi là không có án tích.
Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù giam với mức phạt nghiêm khắc, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, giúp cho bị cáo trở thành công dân tốt, từ đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Mai Sơn và tại phiên tòa xét thấy: Bị cáo hiện không có công việc làm ổn định và bị cáo không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc balo màu đen, họa tiết màu đỏ – trắng, đã qua sử dụng cũ; 01 chiếc áo cộc tay cổ tròn màu đen, họa tiết màu xanh, đã qua sử dụng cũ; 01 chiếc quần dài màu xám, đã qua sử dụng cũ xét thấy không đây là tài sản riêng của bị cáo và bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền 40.000 đồng đựng trong 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La phát hành được niêm phong dán kín theo quy định, được dán giấy niêm phong số 038730 của công an tỉnh Sơn La có đầy đủ chữ ký giáp lai của thành phần tham gia niêm phong xét thấy là tài sản do phạm tội mà có cần tịch thu xung công quỹ nhà nước.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584; 585 Bộ luật dân sự năm 2015.
bị hại Lò Văn H1 có đơn xin đươc vắng mặt tại phiên tòa, trong đơn ông H1 trình bày đã nhận lại tài sản bị mất và yêu cầu bị cáo Vì Văn L phải bồi thường thiệt hại về tài sản đối với xe mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS, màu xanh đen, biển kiểm soát 26k1- 143.00 bị hư hỏng với số tiền là 370.000VNĐ, viêc ông yêu cầu là có căn cứ. Buôc bị cáo Vì Văn L phải bồi thường số tiền 370.000VNĐ cho ông L.
Ông Nguyễn Tự H2 có đơn xin đươc vắng mặt tại phiên tòa, trong đơn ông H2 trình bày đã nhận lai tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo Vì Văn L phải bồi thường gì. Nên hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề bồi thường.
Ông Lò Văn H có đơn xin đươc vắng mặt tại phiên tòa, trong đơn ông H trình bày số tai sản bị cáo L trôm cắp của ông giá trị tài sản không lớn. Do vây ông không yêu cầu bị cáo bồi thường. Nên hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề bồi thường.
[8] Các vấn đề khác:
Đối với ông Doãn Văn H3, là người đã mua 01 con gà của bị cáo Vì Văn L trị gía là 120.000VNĐ, nhưng ông Hùng không biết đây là tài sản trộm cắp. Nên không cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Đối với bà Nguyễn Thị V, là người đã bán cho bị cáo Vì Văn L chè, thuốc lào, rượu trị giá 40.000VNĐ nhưng bà V không biết đây là tiền bị cáo phạm tội mà có. Nên cơ quan điêu tra không xử lý đối với bà V là có căn cứ cần chấp nhận.
Đối vơi bà Lò Thị S, là người đã bán cho bị cáo Vì Văn L 01 chai rượu trị giá 10.000VNĐ nhưng bà S không biết đây là tiền bị cáo phạm tội mà có. Nên cơ quan điều tra không xử lý đối với Bà S là có căn cứ cần chấp nhận
Đối với ông Doãn Văn H3, là người đã bán cho bị cáo Vì Văn L 30.000VNĐ tiền bia nhưng ông H3 không biêt đây là tiền bị cáo phạm tội mà có. Nên cơ quan điêu tra không xử lý đối với ông H3 là có căn cứ cần chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo Vì Văn L là dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, cần áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 của nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 04 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo Vì Văn L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Vì văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Vì Văn L 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 18/09/2021).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc balo màu đen, họa tiết màu đỏ – trắng, đã qua sử dụng cũ; 01 chiếc áo cộc tay cổ tròn màu đen, họa tiết màu xanh, đã qua sử dụng cũ; 01 chiếc quần dài màu xám, đã qua sử dụng cũ.
Tịch thu xung công quỹ nhà nước số tiền 40.000 đồng đựng trong 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La phát hành được niêm phong dán kín theo quy định.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Buôc bị cáo Vì Văn L phải bồi thường cho bị hại Lò Văn H1 số tiền 370.000VNĐ.
4. Về án phí: Căn Cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Căn cứ theo điểm đ Khoản 1Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo ban án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/11/2021);
Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mai Sơn; - Công an huyện Mai Sơn; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện Mai Sơn; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Minh Quân |