vanban.org

Bản án 15/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 22/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 buộc bị cáo Đặng Chí T bồi thường cho anh Nguyễn Văn C số tiền 30.450.000đ (Ba mươi triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) và chị Huỳnh Thị Thanh Loan số tiền 17.350.000đ (Mười bảy triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng) Về xử lý vật c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––
Bản án số:15/2021/HS-ST
Ngày 22/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ-TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ôngPhạm Trí Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ ông Huỳnh Anh Dũng

2/ ông Nguyễn Văn Phước

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ - tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Long Hồ tham gia phiên tòa: ông Hồ Tuấn Huy- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 2 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Bị cáo Đặng Chí T, sinh năm 1995. Tại Vĩnh Long.

Nơi cư trú: ấp Hòa Hiệp, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

Chổ ở hiện nay: ấp Phước Yên A, xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: nam; Con ông Đặng Chí Hiếu và bà Dương Thị Phụng;Tiền sự: Không; Tiền án: Không

Nhân thân: chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2020 đến nay có mặt tại tòa.

Bị hại:

-Nguyễn Văn C, sinh năm 1999 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Đại Nghĩa, xã T Thành Đông, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

-Đặng Chí K, sinh năm 1989 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Thành Phú, xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

-Huỳnh Thị Thanh L, sinh năm 1979 (vắng)

Địa chỉ: Khóm Tân Hòa, phường An Hòa, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Mai Thế C, sinh năm 2005 (có mặt)

Người đại diện hợp pháp của Mai Thế Ch là ông Mai Văn Tiếp, sinh năm 1980 (có mặt). Địa chỉ: ấp Phú Bình, xã Phú Thịnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1957 Địa chỉ: ấp Phước Yên A, xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Chí T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy và không nghề nghiệp. Vì muốn có tiền tiêu xài cán nhân, T nảy sinh ý định trộm cắp xe môtô để bán lại. T tìm kiếm và học cách mở khóa trên mạng internet đồng thời trang bị đoản mở khóa xe để phục vụ cho quá trình trộm cắp. T thuê nhà trọ thuộc ấp Phước Yên A, xã Phú Quới, huyện Long Hồ để ở và làm địa điểm xuất phát đi tìm tài sản lấy trộm. Từ ngày 02/11/2020 đến ngày 22/11/2020, Đặng chí T đã liên tiếp thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện Long Hồ và Thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 20 giờ ngày 02/11/2020, T rủ Nguyễn Thanh M, sinh năm 2005 ngụ ấp Hòa Hiệp, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đi trộm cắp tài sản thì M đồng ý. M điều khiển xe môtô loại Wave của M chở T đi tìm tài sản. Đến khoảng 20 giờ 30 cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc ấp Phước Yên A, xã Phú Quới, huyện Long Hồ thì M và T phát hiện xe môtô loại Exciter biển kiểm soát 64D1 - 39624 của anh Nguyễn Văn C sinh năm 1999 ngụ ấp Đại Nghĩa, xã T Thành Đông, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long đang đậu cặp lề lộ nên M dừng xe. T xuống xe, dùng đoản mang theo bẻ khóa, nổ máy xe điều khiển đi. M và T đem xe vừa trộm cắp được đến Thành phố Hồ Chí Minh bán được 8.000.000đ và chia nhau tiêu xài cá nhân.

Theo kết luận định giá tài sản ngày 02/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: Xe môtô loại Exciter biển kiểm soát 64D1 - 39624 trị giá 30.450.000đ.

Vụ thứ hai:

Vào khoảng 20 giờ ngày 05/11/2020, Mai Thế Ch, sinh ngày 12/9/2005 ngụ ấp Phú Bình, xã Phú Thịnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đến phòng trọ của T. T rủ Ch đi trộm cắp tài sản thì Ch đồng ý. Ch điều khiển xe loại Dream (Chưa xác định được biển số) chở T đi tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Khi đến đoạn đường thuộc khóm 1, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long thì Ch và T phát hiện xe môtô loại Luvias biển kiểm soát 64K1 - 028.85 của anh Đặng Trí Kh, sinh năm 1989 ngụ ấp Thành Phú, xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đang đậu cặp lề lộ không ai trông giữ nên Ch dừng xe. Ch ở lại xe cảnh giới riêng T tiến đến vị trí xe 64K1 - 028.85 dùng đoản mang theo mở khóa xe, nổ máy điều khiển về phòng trọ của T. T và Ch thay đổi màu sơn xe đồng thời gắn biển số 62P1 - 96342 để làm phương tiện đi lại.

Theo kết luận định giá tài sản số 62/HĐ ngày 25/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Thị xã Bình Minh kết luận: Xe môtô loại Luvias biển kiểm soát 64K1 - 028.85 trị giá 5.600.000đ.

Vụ thứ ba:

Vào khoảng 12 giờ ngày 22/11/2020, T rủ Mai Thế Ch đi trộm cắp tài sản thì Ch đồng ý. Ch điều khiển xe 64K1 - 028.85 (đã đổi thành biển số 62P1 - 96342 ) chở T đi tìm tài sản. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc ấp Phước Yên A, xã Phú Quới, huyện Long Hồ thì T nhìn thấy trong bãi xe của nhà trọ Thạnh Vinh có nhiều xe môtô nên T kêu Ch dừng xe. T xuống xe đi đến vị trí của xe mô tô loại Exciter biển số kiểm soát 66S1 - 24432 của chị Huỳnh Thị Thanh Loan sinh năm 1979 ngụ khóm Tân Hòa, phường An Hòa, Thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp dùng đoản mang theo bẻ khóa, nổ máy xe điều khiển đi. T và Ch đem xe vừa trộm cắp được đến Thành phố Hồ Chí Minh bán được 4.500.000đ và chia nhau tiêu xài cá nhân.

Theo kết luận định giá tài sản số 67/HĐ ngày 02/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: Xe mô tô loại Exciter biển kiểm soát 66S1 - 24432 trị giá 17.350.000đ.

Đối với Mai Thế Ch và Nguyễn Thanh M khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ đã có văn bản giao Mai Thế Ch cho Ủy ban nhân dân xã Phú Thịnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long quản lý, giáo dục. Đối với Nguyễn Thanh M chưa làm việc được, khi làm việc được sẽ tiến hành xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số: 13/CT-VKS, ngày 07 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố các bị cáo Đặng Chí T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Ý kiến của các bị cáo tại tòa: Do muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã rủ Ch, rủ M đi trộm xe. Bị cáo cùng Ch trộm 02 vụ và M 01 vụ tại Long Hồ. Bị cáo nhờ Đen bán 02 xe là xe Exciter của anh C và xe Exciter của chị Loan còn xe của anh Kh thì bị cáo để lại xài. Bị cáo đồng ý bồi thường cho anh C số tiền 30.450.000đồng và chị Loan số tiền 17.350.000đồng. Đen là đối tượng đi làm chung với bị cáo ở thành phố Hồ Chí Minh, còn M thì gần nhà bị cáo, bị cáo biết M sinh năm 2005, còn Ch thì bị cáo không biết tuổi. Bị cáo có cùng Ch sử dụng ma túy chung từ số tiền trộm được. Bị cáo không có đưa tiền cho Ch.

Lời sau cùng bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.

Mai Thế Ch trình bày: Bị cáo rủ tôi đi trộm 02 chiếc xe. Chiếc Luvias thì bị cáo để lại cho bị cáo xài, chiếc xe Exciter bị cáo bán tôi không biết vì bị cáo không nói, bị cáo không có đưa tiền cho tôi. Tôi không có sử dụng ma túy.

Bị hại Nguyễn Văn C trình bày: Tôi bị mất 01 xe Exciter tôi yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 30.450.000đồng như giám định tài sản. Về hình phạt thì xử theo pháp luật.

Bị hại Đặng Chí Kh trình bày: chiếc xe Luvias Đã thu hồi trả lại cho tôi, còn giấy tờ tôi đã mất tôi đã làm lại, tôi không yêu cầu bị cáo bồi thường, về hình phạt xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Bảo lưu quan điểm bản Cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Chí T mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Văn C số tiền 30.450.000đồng và chị Huỳnh Thị Thanh Loan số tiền 17.350.000đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự giao trả lại cho anh Nguyễn Văn Học quản lý nhà trọ Thạnh Vinh một đĩa CD chứa 03 đoạn camera ngỏ 1,2,5 của nhà trọ Thạnh Vinh. Tịch thu hủy bỏ 01 biển số xe 64P1-963.42, một cây đoản dùng để mở khóa xe bằng kim loại cùng một thanh kim loại màu trắng.

Án phí: Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tất cả các quyết định, hành vi tố tụng, thủ tục từ giai đoạn phát hiện tội phạm đến truy tố bị cáo. Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Không có khiếu nại từ phía người tham gia tố tụng.

Việc vắng mặt của bị hại chị Huỳnh Thị Thanh Loan và ông Nguyễn Văn Học không làm ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo, vì người này đã có lời khai rõ ràng tại hồ sơ. Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[2. ]Về nội dung:

Lời khai nhận tại tòa của bị cáo phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị can, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, tài sản bị thiệt hại được định giá là 53.400.000đồng. Đủ căn cứ kết luận bị cáo Đặng Chí T phạm tội trộm cắp tài sản. Bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 07/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng pháp luật.

Tài sản hợp pháp của công dân là quyền bất khả xâm phạm được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm, bị cáo đã đi tìm tòi và lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, bị cáo thực hiện tội phạm rất táo bạo và nhanh gọn, gây mất trật tự cho đời sống bình thường của mọi người. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Là đối tượng nghiện chất ma túy và chây lười lao động. Do đó, việc xử lý nghiêm minh đối với các bị cáo là cần thiết, để lập lại trật tự xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Mỗi lần bị cáo chiếm đoạt tài sản đều có giá trị trên 2.000.000đồng. Là phạm tội 02 lần trở lên. Bị cáo lôi kéo rủ rê Mai Thế Ch và Nguyễn Thanh M thực hiện tội phạm. Ch và M chưa đủ 18 tuổi là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội. Do đó hình phạt của bị cáo phải nghiêm khắc.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị phát hiện sự việc phạm tội, bị cáo đã thật thà khai nhận. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo khai những việc không phù hợp với quá trình diễn biến tội phạm, tìm cách che đậy tính nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, nên tình tiết thật thà chỉ được xem xét trong giới hạn, có một bị hại tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết trên là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản của anh Kh đã được trả lại cho anh Kh, anh Kh không có yêu cầu nên không xem xét. Chiếc xe của anh C trị giá 30.450.000đồng, xe của chị Loan trị giá 17.350.000đồng bị cáo đã bán không thu hồi được, anh C chị Loan có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường.

Về xử lý vật chứng: 01 địa CD chứa 03 đoạn camera các ngỏ 1,2,5 tại nhà trọ Thạnh Vinh trả lại cho chủ sở hữu nhưng là vật có liên quan đến việc chứng minh tội phạm nên tiếp tục được lưu giữ đến khi án có hiệu lực. 01 biển kiểm soát 62P1-96342 là biển số giả nên tịch thu hủy bỏ, chiếc đoản hình chủ L và một thanh kim loại là công cụ phạm tội nên tịch thu hủy bỏ.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí: Buộc bị cáo nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.390.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẻ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, Điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Chí T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 buộc bị cáo Đặng Chí T bồi thường cho anh Nguyễn Văn C số tiền 30.450.000đ (Ba mươi triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) và chị Huỳnh Thị Thanh Loan số tiền 17.350.000đ (Mười bảy triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng)

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự giao trả lại cho anh Nguyễn Văn Học quản lý nhà trọ Thạnh Vinh một đĩa CD chứa 03 đoạn camera ngỏ 1,2,5 của nhà trọ Thạnh Vinh. Tịch thu hủy bỏ 01 biển số xe 64P1-963.42, một cây đoản dùng để mở khóa xe bằng kim loại (ống kim loại hình chữ L bên ngoài quấn băng keo màu đen, hai đầu tron bên trong lục giác kích thước 08mm, ống điếu dài 16cm, đoạn L dài 4,5cm) cùng một thanh kim loại màu trắng (dài 6,5cm có hai đầu, đầu lục giác dài 3,5cm, đoạn lưỡi dài 3cm). Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/2/2021 giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ.

4. Về án phí: Áp dụng Điều136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 và 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo Đặng Chí T nộp 200.000đ(Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.390.000đ (Hai triệu ba trăm chín mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại có mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ