vanban.org

Bản án 15/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 15/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/02/2021. [2] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản xong, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÀNG LONG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/HS-ST
Ngày 15-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Nhung.

Các Hội Thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Út.

2. Ông Trương Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tính - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2021/HSST, ngày 18 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2021/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh H, sinh năm 1994 tại tỉnh Trà Vinh; Giới tính: nam.

Nơi cư trú: ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: không nghề nghiệp; Trình độ văn hoá: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Con ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1962 và bà Kim Thị B1, sinh năm 1965 (đã chết). Anh chị em ruột: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1992. Vợ tên Lê Thị D, sinh năm 1996 (sống chung như vợ chồng, chưa đăng ký kết hôn).

Tiền sự: không.

Tiền án: 01. Ngày 06/5/2019, bị cáo Nguyễn Thanh H bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số: 30/2019/HS-ST. Đến ngày 21/01/2020, bị cáo Nguyễn Thanh H chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa được xóa án tích.

Bị cáo Nguyễn Thanh H bị tạm giữ từ ngày 06/02/2021 đến ngày 09/02/2021 chuyển sang tạm giam cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại:

Ông Đoàn Văn Đ, sinh năm 1974. Có mặt.

Cư trú: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Kim Thị T, sinh năm 1956; Có mặt.

2. Ông Nguyễn Công M, sinh năm 1990. Vắng mặt.

Cùng cư trú: ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người làm chứng:

Ông Đoàn Văn H, sinh năm 1976. Vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa gồm: không có.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 06 tháng 02 năm 2021, bị cáo Nguyễn Thanh H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84L1- 451.43 (xe này bị cáo mượn của anh Nguyễn Công M, anh ruột của bị cáo) lưu thông trên đường đal nông thôn hướng từ Quốc lộ 53 đi Quốc lộ 60 thuộc xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Khi đi đến đoạn trước nhà ông Đoàn Văn Đ, bị cáo H nhìn thấy ở cặp đường đal trước nhà của ông Đ có 03 con gà trống được nhốt trong bội (lồng bằng kim loại) không người quản lý. Bị cáo H liền nảy sinh ý định trộm cắp gà để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lúc này bị cáo H quay đầu xe lại, dựng ngoài lộ đal rồi đi bộ đến vị trí nhốt 03 con gà nêu trên. Tại đây bị cáo H dùng tay mở nắp bội, đưa tay phải vào bắt trộm 01 (một) con gà trống nòi lông màu đỏ, đen (gà khét) ra khỏi bội và mang con gà vừa trộm được ra xe mô tô để tẩu thoát. Cùng lúc này ông Đ phát hiện liền đuổi theo và bắt giữ bị cáo H cùng tang vật là 01 con trống nòi nêu trên và trình báo sự việc cho Công an xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Ngày 06 tháng 02 năm 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Càng Long đã ra yêu cầu định giá tài sản của ông Đoàn Văn Đ.

Tại bản kết luận định giá số 09/KL-ĐGTS ngày 06 tháng 02 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Càng Long kết luận tại thời điểm bị xâm hại 01 (một) con gà trống nòi lông màu đỏ, đen (gà khét), trọng lượng 2,75kg có giá trị là 330.000 đồng.

Về vật chứng: Quá trình điều tra đã tạm giữ số đồ vật, tài liệu sau:

- 01 (một) con gà trống, lông màu đỏ đen, trọng lượng 2,75kg;

- 01 (một) con gà trống, lông màu đỏ đen, trọng lượng 1,70kg;

- 01 (một) con gà trống, lông màu trắng đen đỏ, trọng lượng 1,10kg;

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE, màu sơn: Trắng Đen, số máy: JA39E0311063, số khung: 3900HY311026, biển kiểm soát 84L1 451.43;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu PORME;

- 01 (một) áo khoát màu đỏ đen;

- 01 (một) nón bảo hiểm màu đen đỏ trắng xanh;

- Tiền Việt Nam đồng: 281.000 đồng.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trao trả 01 (một) con gà trống, lông màu đỏ đen, trọng lượng 2,75kg cho bị hại Đoàn Văn Đ; Trao trả 01 (một) con gà trống, lông màu đỏ đen, trọng lượng 1,70kg, 01 (một) con gà trống, lông màu trắng đen đỏ, trọng lượng 1,10kg và số tiền 281.000 đồng cho bà Kim Thị T (dì ruột của bị cáo Nguyễn Thanh H nhận thay cho bị cáo) do những tài sản này không liên quan đến vụ án.

Vật chứng còn lại:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE, màu sơn: trắng đen, số máy: JA39E0311063, số khung: 3900HY311026, biển kiểm soát 84L1 - 451.43;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu PORME;

- 01 (một) áo khoát màu đỏ đen;

- 01 (một) nón bảo hiểm màu đen đỏ trắng xanh;

Về phần trách nhiện dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại đã nhận lại tài sản, nên không yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số: 15/CT-VKSCL, ngày 17/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thanh H thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo là “khoảng 08 giờ 00 phút ngày 06/02/2021 bị cáo có hành vi trộm cắp 01 con gà trống nòi lông màu đỏ - đen của ông Đoàn Văn Đ và thừa nhận việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật”.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/02/2021.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản xong, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về vật chứng: giao trả cho anh Nguyễn Công M 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE, màu sơn: trắng đen, số máy: JA39E0311063, số khung: 3900HY311026, biển kiểm soát 84L1 -451.43. Các vật chứng còn lại như điện thoại di động, áo khát và nón bảo hiểm trả lại cho bị cáo H.

Ngoài ra, vị còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Qua quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi – nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Càng Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh H tại phiên tòa hôm nay là “bị cáo có lấy trộm tài sản của ông Đ như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo và thừa nhận hành vi lấy trộm tài sản của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật” phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và người liên quan cùng với các tài liệu, vật chứng và các chứng cứ khác do cơ quan điều tra Công an huyện Càng Long thu thập có được trong hồ sơ vụ án.

Do vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng qui định pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi vì tài sản hợp pháp của công dân là quyền bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm tài sản của người khác mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu là vi phạm pháp luật. Vào năm 2019 bị cáo Nguyễn Thanh H đã bị xử phạt 01 năm tù về hành vi trộm cắp tài sản, chưa xóa án tích, đáng lẽ ra trong quá trình chấp hành hình phạt tù, bị cáo phải nhận thức được việc lấy trộm tài sản của người khác là sai phạm nhưng bị cáo không làm được việc này, lợi dụng sự quản lý tài sản lỏng lẻo của người bị hại, bị cáo lấy trộm tài sản của bị hại để phục vụ cho bản thân nên lao vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến tài sản của người bị hại mà còn gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, hành vi của bị cáo là thể hiện bị cáo xem thường pháp luật.

Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra, xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật.

Nhằm góp phần ổn định tình hình trật tự tại địa phương và đấu tranh ngăn ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đưa bị cáo Nguyễn Thanh H ra xét xử là cần thiết, nhằm để giáo dục riêng cho bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử cũng cần xem xét những tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội và tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản xong, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Về vật chứng:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu PORME;

- 01 (một) áo khoát màu đỏ đen;

- 01 (một) nón bảo hiểm màu đen đỏ trắng xanh;

Của bị cáo Nguyễn Thanh H không liên quan đến hành vi phạm tội, nghĩ nên trả cho bị cáo H.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE, màu sơn: trắng đen, số máy: JA39E0311063, số khung: 3900HY311026, biển kiểm soát 84L1 - 451.43 của anh Nguyễn Công M không liên quan đến hành vi phạm tội nên giao trả lại cho anh M.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H có nghĩa vụ nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 327, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/02/2021.

[2] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản xong, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

[3] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

* Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Thanh H:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu PORME;

- 01 (một) áo khoát màu đỏ đen;

- 01 (một) nón bảo hiểm màu đen đỏ trắng xanh;

* Tuyên trả cho anh Nguyễn Công M:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE, màu sơn: trắng đen, số máy: JA39E0311063, số khung: 3900HY311026, biển kiểm soát 84L1 - 451.43;

[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo và các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 06; Điều 07 và Điều 09 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ