vanban.org

Bản án 15/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau Tuyên án 04/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về Điều luật áp dụng: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (Một) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về Điều luật áp dụng: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/HS-ST
Ngày: 04 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Tấn Liêm

2. Ông Bùi Hữu Khánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ là Thư ký Toà án nhân dân huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thanh Mãy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03, 04 tháng 3 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2020/TLST-HS, ngày 17 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1989 tại huyện C, tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: ấp Tân Tạo, xã Tân Hưng Đông, huyện C, tỉnh Cà Mau, nghề nghiệp: Làm vuông; Trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Kết (1951) và bà Dương Thị Hương (1952); Vợ tên Phan Thị Tâm; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/01/2020 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đ: Luật sư Trịnh Thanh Liệt, Văn phòng Luật sư Trịnh Thanh L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (Có mặt).

- Bị hại: Bà Hồ Thị Th, sinh năm 1961 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp Tân Tạo, xã Tân Hưng Đông, huyện C, tỉnh Cà Mau

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1984 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp Tân Tạo, xã Tân Hưng Đông, huyện C, tỉnh Cà Mau

2. Bà Dương Thị Thu H, sinh năm 1952 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Tân Tạo, xã Tân Hưng Đông, huyện C, tỉnh Cà Mau

3. Ông Võ Văn Th, sinh năm 1954 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp Tân Tạo, xã Tân Hưng Đông, huyện C, tỉnh Cà Mau

4. Trung tâm giám định pháp y tỉnh Cà Mau:

Ông Võ Bảo T – Bác sỹ, Giám định viên (vắng mặt)

Địa chỉ: số 10, Phan Đình Phùng, phường 4, Tp Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 00 ngày 13/9/2019, Nguyễn Văn K đi canh vuông thì phát hiện có 01 cái rập cua lạ đặt dưới kênh vuông tôm của mình nên biết có người đặt trộm cua, do vậy anh K tổ chức rình để bắt kẻ trộm, ngay sau đó anh K vào nhà nói cho vợ là Triệu Hồng Đ biết là có người đặt rập cua trong vuông rồi đi qua nhà của ông Võ Văn Thcặp nhà nói cho ông Th biết có người đặt trộm cua, đồng thời nhờ ông Thái canh bắt trộm tiếp, thì ông Thái đồng ý. Trong lúc anh Kiếm đi khỏi nhà thì chị Đang gọi điện thoại cho mẹ chồng là bà Dương Thị H nói "có người đặt rập cua trong vuông cặp ranh đất với ông Khải", nghe vậy bà Hương nói chho con trai là Nguyễn Văn Đ biết sự việc trên. Sau đó Nguyễn Văn Đ cầm theo 01 khúc cây tre (loại tre tầm vong khô cứng dài 1,46m, đường kính 03cm) để đi rình bắt kẻ trộm và đến rình trong bụi rậm trên bờ vuông cách vị trí rập cua 16m. Lý do Nguyễn Văn Đ biết vị trí rập cua là do trước đó khoảng 03 ngày trước Đ đã được anh Kiếm nói và thấy 01 rập cua lạ được đặt ở mương vuông của anh Kiếm cặp ranh đất với ông Khải. Việc Đ rình bắt trộm gần rập cua lạ thì anh Kiếm biết nên anh Kiếm cùng ông Thái, bà Hương thì rình ở trên bờ vuông đối diện cách vị trí rập cua 40m.

Đến khoảng 01 giờ 00 cùng ngày, Đ phát hiện bà Hồ Thị Thạch đi từ bờ vuông của bà Thạch sang bờ vuông của anh Kiếm, rồi đi đến vị trí đặt rập cua lạ mà Đ và mọi người đang rình bắt, Đ tiếp tục quan sát thì thấy bà Thạch có hành động khum người xuống kéo rập cua lên, nên rời vị trí nấp, hai tay cầm khúc cây tre xông đến đánh từ trên xuống trúng vào lưng bà Thạch, đồng thời hô to "ăn trộm nè, ăn trộm nè". Sau khi Đ đánh vào lưng thì bà Thạch bỏ lại rập cua ngay mé bờ vuông chạy về hướng nhà nhưng bị vấp té vào đám dừa nước cách đó 6m, thấy vậy Đ quăn cây tre bỏ và đuổi theo câu vật bà Thạch tại khu vực đám dừa nước và dằn co một lúc thì khóa tay được bà Thạch ra phía sau, đồng thời đè bà Thạch xuống đất.

Trong lúc Đ đánh bà Thạch và truy hô thì ông Thái, bà Hương, anh Kiếm cũng phát hiện trộm nên anh Kiếm nhảy xuống kênh vuông lội tắt qua vị trí Đ bắt bà Thạch, còn ông Thái đứng tại vị trí nấp pha đèn pin qua, bà Hương cũng đứng gần vị trí ông Thái. Khi anh Kiếm lội qua tới nơi thì Đ đã khống chế được bà Thạch, lúc này anh Kiếm nói "dở lú hả, dở lú hả", bà Thạch kêu lên "ông Khải ơi, ông Khải ơi" thì ông Khải chồng bà Thạch từ trong nhà đi ra hỏi "có chuyện gì vậy", anh Kiếm trả lời "thiếm ba dở rập cua trong vuông con chứ gì" rồi dẫn ông Khải đến chổ bà Thạch bỏ cái rập cua trên bờ vuông, kiểm tra trong rập cua thì có một con cua gạch; thấy vậy ông Khải nói "hết biết nhỏ này rồ", ông Khải nói tiếp "thôi thả thiếm ba mầy vào nhà đi, có gì tính sau"; lúc đó ông Thái từ bờ vuông đối diện nói "thôi đừng đánh đập gì nữa, dẫn nó vào nhà đi, để tao gọi Công an đến"; Đ buôn tay bà Thạch ra thì bà Thạch đi vào nhà cùng với ông Khải, Đ và anh Kiếm mang theo rập cua bắt trộm đi đến nhà ông Thái, sau đó ông Thái gọi điện báo cho ông Nguyễn Văn Thăng – Trưởng ban nhân dân biết. Ông Thăng đến nơi thì thấy bà Thạch bị thương tích nhiều chổ nên điện báo cho Công an xã Tân Hưng Đông đến lập biên bản và sau đó người nhà đưa bà Thạch đến Bệnh viện C để điều trị.

Vật chứng đã thu giữ gồm: 01 (một) khúc tre khô dài 1,46m, đường kính 03cm; 01 cái lồng bẩy cua 04 hom, hình trụ, vành bằng sắt, lưỡi dây gân màu xanh đã qua sử dụng và 01 con cua gạch 280g.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 294/TgT ngày 18 tháng 11 năm 2019 của Trung tâm Pháp y sở y tế tỉnh Cà Mau kết luận dấu hiệu chính qua giám định bà Hồ Thị Thạch, gồm:

- 01 vết sẹo 1/3 trên mặt sau ngoài cẳng tay phải, kích thước 04cm x 0,3cm. Tỷ lệ 01%. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.

- 01 vết sẹo phẫu thuật 1/3 trên mặt sau ngoài cẳng tay phải, kích thước 04cm x 0,2cm. Tỷ lệ 1%. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.

- 01 vết sẹo vùng gân asin phải, kích thước 03cm x 0,3cm. Tỷ lệ 0,5%. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.

- 01 vết sẹo 1/3 giữa mặt trước cẳng chân phải, kích thước 1,3cm x 0,5cm. Tỷ lệ 0,5%. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.

- Gãy cung sau xương sườn XI phải và xương sườn IX, X trái có tạo cal. Tỷ lệ 09%. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.

- Gãy mõn ngang L1, L2 bên phải có tạo cal. Tỷ lệ 11%. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Bộ y tế là 21,44%, làm tròn số 21%.

Kết luận khác: Do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động trực tiếp vào vùng tổn thương gây ra bầm tụ máu, rách da, cân, cơ, thần kinh, mạch máu, xương. Sau khi lành để lại sẹo trên da, quá trình liền xương để lại cal xương.

Bị hại yêu cầu bị cáo Đ bồi thường tiền thuốc điều trị bệnh, tiền xe, tiền nuôi bệnh, tiền ăn uống, tiền mất thu nhập thực tế bị mất và tổn thất tinh thần là 54.883.000 đồng. Đã qua bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.0000.000 đồng, hiện bị hại tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường 44.883.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ trình bày: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 13/9/2019 bị cáo phát hiện Hồ Thị Thạch dở rập cua đặt trong vuông tôm của anh Kiếm nên bị cáo cầm cây tre khô đánh trúng trên lưng bà Thạch, sau đó bà Thạch bỏ chạy thì bị cáo tiếp tục câu giật bà Thạch tại bụi dừa nước làm cho bà Thạch bị thương tích là 21%. Bị cáo thừa nhận thương tích của bà Thạch là do bị cáo gây ra. Hiện bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường cho bà Thạch theo quy định pháp luật.

Tại các lời khai tại Tòa án, bà Hồ Thị Thạch (Bị hại) trình bày: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 13/9/2019 khi bà ra ngoài vuông tôm thì ông Nguyễn Văn Đ dùng cây đánh vào lưng bà nhiều cái, sau đó bà bỏ chạy dắp té vào bụi lá dừa nước thì ông Đ tiếp tục câu giật bà làm cho bà bị thương tích 21%. Sau khi sự việc xãy ra, bà Thạch điều trị tại Bệnh viện Cà Mau. Nay bà Thạch yêu cầu ông Đ tiếp tục bồi thường chi phí điều trị, mất thu nhập tổng số tiền 44.883.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 37/CT-VKS, ngày 26 tháng 5 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 585, 590 Bộ luật dân sự; Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tù.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy khúc cây tre khô dài 1,46m, đường kính 03cm; 01 cái lồng bẩy cua có 04 hom, hình trụ, vành bằng sắt, lưới dây gân màu xanh.

Về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo Đ tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền là 44.883.000 đồng.

Tại phiên tòa Luật sư Trịnh Thanh L phát biểu: Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng. Tuy nhiên, trong vụ án này nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội là do bị hại Thạch qua vuông đặt cua trộm nhiều lần nên bị cáo quá bức xức, tổ chức rình bắt người trộm cua. Nhưng khi bắt được người trộm cua thì bị cáo dùng cây đánh vào người bị hại 01 cây gây thương tích, còn lại các thương tích khác trên người là do bà Thạch bỏ chạy tự té vào bụi dừa nước bị thương tích nên bị cáo không chịu trách nhiệm về các vết thương tích khác. Do đó, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố đối với bị cáo Đ tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là không đúng mà phải truy tố đối với bị cáo theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 mới đúng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Đối với Quyết đinh trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án thì Viện kiểm sát và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chưa làm rõ gì sao kết quả của 03 Bệnh viện: Huyện C; MEDIC và Bệnh viện Hoàn Mỹ có sự mâu thuẩn chưa rõ ràng. Không cho bị hại đi giám định lại đúng theo quy định là vi phạm tố tụng. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ các vấn đề đã nêu trên.

Nếu như Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử thì đề nghị áp dụng các tình tiết: Bị cáo thành thật khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục một phần hậu quả cho bị hại, phạm tội lần đầu, đồng thời có một phần lỗi người bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo có điều kiện lo cho gia đình.

Vấn đề Luật sư đặt ra thì tại hồ sơ thể hiện Công văn số: 87/CV-TTPY, ngày 03/12/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau trả lời về việc giải thích kết luận giám định của bà Hồ Thị Thạch như sau: Gãy cung sau xương sườn XI phải, xương sườn IX, X trái có tạo cal và gãy mõm ngang L1, L2 bên phải có tạo cal phù hợp và tương ứng với các tổn thương vùng lưng của bà Hồ Thị Thạch nhưng do Giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện huyện đa khoa C chỉ chụp XQ ngực (ngày 13/9/2019 hình ảnh rất mờ, chỉ khảo sát được tổn thương nhu mô phổi) nên hạn chế việc đánh giá và chẩn đoán các tổn thương nhỏ (rạn, nứt, gãy không di lệch …) trên xương. Thời gian gãy, vị trí gãy xương nói trên của bà Thạch phù hợp và tương ứng với vị trí thương tích mà bà Thạch bị đánh ghi trong hồ sơ bệnh án và giấy chứng nhận thương tích.

Vấn đề chứng cứ Luật sư đặt ra thì tại hồ sơ đã thu thập từ nhiều nguồn chứng cứ khác xác định bị cáo Đ gây thương tích cho bà Thạch với tỷ lệ thương tích là 21%.

Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, xin giảm nhẹ hình phạt do bị cáo đã ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét bị cáo đã có hành vi cố ý gây thương tích cho người bị hại, cụ thể bị cáo đã có hành vi đánh vào lưng bà Thạch; gằn co, câu giật, khóa tay bà Thạch làm cho bà Thạch bị thương tích 21%. Do bị cáo Đ phát hiện Hồ Thị Thạch dỡ rập cua đặt trong vuông tôm của anh Kiếm nên bị cáo cầm cây tre khô đánh trúng trên lưng bà Thạch, sau đó bà Thạch bỏ chạy thì bị cáo tiếp tục câu giật bà Thạch tại bụi dừa nước làm cho bà Thạch bị thương tích. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức bình thường, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo biết rõ hành vi gây thương tích của người khác là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì búc xúc cá nhân mà bị cáo đã gây ra thương tích cho người khác. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật hình sự mà còn gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm để răn đe cho bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, trong vụ án này có một phần lỗi của người bị hại đã nhiều lần đặt gập trộm cua trong vuông tôm của bị cáo, từ đó bị cáo bức xúc không kiềm chế được khi bắt được bị hại đang đổ gập cua trong vuông tôm, trong gập cua có 01 con cua gạch cân nặng 280 gam.

Xét bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; phạm tội lần đầu; bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 44.883.000 đồng theo yêu cầu của bị hại; bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm hình sự. Do đó, khi nghị án, lượng hình có xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo Đ có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Hiện bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị, mất thu nhập số tiền 44.883.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo Đ đồng ý bồi thường cho bà Thạch số tiền 44.883.000 đồng. Xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vật chứng vụ án: Đối với các vật chứng thu được tại hiện trường liên quan đến vụ án gồm: Khúc cây tre khô dài 1,46m, đường kính 03cm; 01 cái lồng bẩy cua có 04 hom, hình trụ, vành bằng sắt, lưới dây gân màu xanh. Hội đồng xét xử xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn Kiếm, quá trình điều tra chưa chứng minh được là Kiếm có đánh bà Hồ Thị Thạch hay không, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tách ra khi nào chứng minh sẽ xử lý sau là phù hợp. Còn hành vi trộm cắp của bà Hồ Thị Thạch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng là phù hợp.

Đối với con cua gạch 280 gam đã trả lại cho Nguyễn Văn Kiếm, hiện nay Kiếm không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.

Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Về Điều luật áp dụng: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (Một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, 590 Bộ luật dân sự; Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Hồ Thị Thạch số tiền 44.883.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu tám trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng với thời gian chậm trả được quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: Khúc cây tre khô dài 1,46m, đường kính 03cm; 01 cái lồng bẩy cua có 04 hom, hình trụ, vành bằng sắt, lưới dây gân màu xanh. Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện C quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 5 năm 2020.

Về án phí: Áp dụng điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.244.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bà Thạch, ông Kiếm, bà Hương, ông Thái có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ