- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Thu H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Thị Thu H phải chịu 200.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/HS-PT Ngày : 29-01-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thường
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Hồng Vỹ là thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở TAND tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 142/2020/TLPT-HS ngày 30 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo Trần Thị Thu H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2020/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Q.
Bị cáo có kháng cáo: Trần Thị Thu H, sinh năm 1990 tại TP. Q, Bình Định; nơi ĐKNKTT: Tổ 35, khu vực 5, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định; chỗ ở hiện nay: 808/6/21/24 Trần Hưng Đạo, phường Đống Đa, TP. Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Bán nước giải khát; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; con ông: Trần Văn T, sinh năm 1961 và bà: Huỳnh Thị H, sinh năm 1960; chồng: Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1988, có 02 con, sinh năm 2016 và 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 06/7/2020, bị cáo Trần Thị Thu H một mình điều khiển xe mô tô biển số 77H5-1854 đi dạo các khu dân cư để tìm tài sản trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo đi đến nhà trọ số 55/14/53 đường N, P. N, TP. Q, thấy cửa phía trước mở nên bị cáo H dừng xe ở trước, đi bộ vào trong rồi lên cầu thang tầng 02. H thấy phòng trọ của anh Phạm Minh T không khóa cửa, không có người nên H lẻn vào lấy trộm 01 laptop (hiệu Dell Inspiron 15, core i3, màu đen, màn hình 15.7 inch) của anh Tiển để trên nền nhà và và 01 điện thoại di động hiệu OPPO Neo 7 màu trắng của anh Nguyễn Bá S để bên cạnh. Sau khi trộm cắp được, H mang laptop đến tiệm mua, bán, sửa chữa điện thoại di động cũ tại địa chỉ 253 Nguyễn Thái H, P. N, TP. Q bán cho anh Lê Văn D (chủ tiệm) với giá 1.500.000 đồng. Điện thoại di động OPPO Neo 7, H bán cho người lạ đi đường (không rõ lai lịch) tại đường P, TP. Q được 500.000 đồng.
Cũng với thủ đoạn tương tự, trưa ngày 08/7/2020, H tiếp tục đến nhà trọ số 55/14/53 đường N, P. Nguyễn Văn Cừ, TP. Q để tìm tài sản trộm cắp. Khi lên tầng 2, thấy phòng trọ của chị Nguyễn Thị Lan V không khóa cửa; chị Vi và chị Lữ Thị Thanh T đang ngủ quay mặt vào trong nên H lẻn vào mở ví tiền của chị Vi đang để trên bàn học gần cửa ra vào, lấy số tiền 4.410.000 đồng bên trong rồi bỏ đi. Số tiền bán laptop, điện thoại và số tiền trộm cắp được H tiêu xài cá nhân còn lại 927.000 đồng.
Đến trưa ngày 09/7/2020, bị cáo H tiếp tục đi dạo để tìm tài sản trộm cắp thì bị Công an P. Nguyễn Văn Cừ phát hiện, đưa về trụ sở làm việc. Tại đây, bị cáo H đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và giao nộp số tiền 927.000 đồng trộm cắp được.
Ngày 30/7/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Q kết luận:
+ Một laptop hiệu Dell Inspiron 15, core i3, màu đen, màn hình 15.7 inch đã qua sử dụng, trị giá: 6.400.000 đồng.
+ Một điện thoại di động OPPO Neo 7 bộ nhớ trong 16Gb đã qua sử dụng, trị giá: 1.200.000 đồng.
Tại cơ quan CSĐT Công an TP. Q, Trần Thị Thu H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp trên của mình với tổng tài sản chiếm đoạt là 12.010.000 đồng.
Ngày 11/9/2020, Cơ quan CSĐT Công an TP.Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền 927.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Lan V; 01 laptop hiệu Dell Inspiron 15, core i3, màu đen, màn hình 15.7 inch của anh Phạm Minh Tiển.
Về dân sự: Chị Nguyễn Thị Lan V yêu cầu bồi thường số tiền còn lại là 3.483.000 đồng nhưng Trần Thị Thu H chỉ mới bồi thường số tiền 1.000.000 đồng, hiện còn 2.483.000 đồng chưa bồi thường.
- Anh Nguyễn Bá S yêu cầu bồi thường số tiền 1.500.000 đồng nhưng H chưa bồi thường.
Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2020/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
* Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị Thu H 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 25 tháng 11 năm 2020, bị cáo Trần Thị Thu H kháng cáo xin được hưởng án treo.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Trần Thị Thu H nảy sinh ý định lẻn vào các khu nhà trọ ở TP. Q để trộm cắp tài sản. Với thủ đoạn trên vào ngày 06/7/2020, bị cáo Trần Thị Thu H lén lút đột nhập vào phòng trọ của anh Phạm Minh Tiển và anh Nguyễn Bá Sơn chiếm đoạt 01 laptop hiệu Dell Inspiron 15, core i3, màu đen, màn hình 15.7 inch trị giá 6.400.000 đồng của anh Tiển và 01 điện thoại di động hiệu OPPO Neo 7 màu trắng trị giá 1.200.000 đồng của anh Sơn. Tiếp đến, ngày 08/7/2020, bị cáo H lẻn vào phòng trọ của chị Nguyễn Thị Lan Vi chiếm đoạt của chị Vi số tiền 4.410.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 12.010.000 đồng. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 130/2020/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã xét xử bị cáo Trần Thị Thu H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thị Thu H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện, áp dụng đầy đủ các tình tiết và xử phạt bị cáo 03 tháng tù là phù hợp, tương xứng với hành vi bị cáo. Mặc khác, bị cáo phạm tội nhiều lần nên không đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15.5.2018 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Theo điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 thì bị cáo Trần Thị Thu H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác về án phí, quyền kháng cáo của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Thu H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị Thu H 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1-TANDTC - VKSND tỉnh Bình Định; - CQHSNVCSCA tỉnh Bình Định; - TA, VKS, CQĐT CA Tp.Q; - Cơ quan THAHS Tp.Q; - Chi cục THADS Tp.Q; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định, - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thường |