- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thu T - Lê Văn T2"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thu T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/HNGĐ-ST Ngày: 13-5-2021 V/v tranh chấp: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Hiếu Nhường.
Bà Nguyễn Thu Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Đào Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2020 về tranh chấp “Xinly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1968 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố M, phường M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Lê Văn T2, sinh năm 1969 (vắng mặt);
Quốc tịch: Hoa Kỳ;
Địa chỉ: Hoa Kỳ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thu T trình bày:
Chị và anh Lê Văn T2 kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ngày 25/4/2010. Nguyên nhân chính mà chị xin ly hôn với anh T2 là do sau khi tổ chức lễ cưới, anh T2 chỉ về Việt Nam một lần vào năm 2011; sau đó anh T2 đi luôn cho đến nay, cũng không liên lạc với chị nữa. Để mỗi người tự tạo lập cuộc sống riêng, chị khởi kiện yêu cầu:
- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn T2.
- Về con chung, nợ chung và tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Văn T2 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng vắng mặt trong suốt quá trình hòa giải, xét xử; cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Nhận thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thu T và anh Lê Văn T2 đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T; về con chung, tài sản chung, nợ chung: chị T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thu T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn T2 nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Xin ly hôn” theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thu T có đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn với anh Lê Văn T2. Anh T2 có quốc tịch Hoa Kỳ, hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ (Hoa Kỳ) nên cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ để tống đạt văn bản tố tụng cho anh T2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm c khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc ủy thác tư pháp, tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T2 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 474 và điểm c khoản 6 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nhưng anh T2 không nộp bản tự khai trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng mà không có lý do, vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T2 theo quy định tại khoản 5 Điều 477 và khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Nguyễn Thu T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thu T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị Nguyễn Thu T và anh Lê Văn T2 quen biết tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 146 ngày 25 tháng 4 năm 2010 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của chị T, sau khi kết hôn, chị T sinh sống tại Việt Nam, anh T2 sống tại Hoa Kỳ. Sau khi kết hôn thì anh T2 có về Việt Nam được một lần vào năm 2011, kể từ năm 2011 thì không còn liên lạc cho đến hôm nay.
Nhận thấy, thời gian chị T và anh T2 chung sống như vợ chồng không có, người ở Việt Nam, người ở Hoa Kỳ sống tách biệt khiến cho việc vun đắp tình cảm vợ chồng gặp nhiều khó khăn; từ năm 2011, chị T và anh T2 đã không còn liên lạc với nhau càng khiến cho tình cảm vợ chồng suy giảm. Mục đích cơ bản của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và bền vững; nhưng chị T và anh T2 thường xuyên sống xa nhau, lại không liên lạc khiến cho việc xây dựng gia đình không đạt được, càng không tạo được sự bền vững trong quan hệ vợ chồng. Thêm vào đó, từ khi chị T nộp đơn xin ly hôn đến nay, mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng anh T2 vẫn vắng mặt không lý do, không tham gia các phiên hòa giải, xét xử, cũng không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị T. Từ đó cho thấy anh T2 không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Cả hai đã không còn tình cảm với nhau, việc kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho chị T và anh T2.
Từ những nhận định trên, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thu T và anh Lê Văn T2 không còn khả năng hàn gắn, hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thu T đối với anh Lê Văn T2.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị Nguyễn Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thu T phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng được khấu trừ vào các khoản tạm ứng mà chị đã nộp nên xem như chị đã hoàn thành xong nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153, khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 477, khoản 1 và 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thu T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thu T được ly hôn với anh Lê Văn T2.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thu T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai số 0001280 ngày 05/3/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang, xem như chị đã nộp xong án phí sơ thẩm.
3. Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thu T phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng được khấu trừ vào các khoản tạm ứng mà chị T đã nộp nên xem như chị T đã hoàn thành xong nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thu T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Anh Lê Văn T2 cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP. HCM; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Cục THADS tỉnh Tiền Giang; - UBND tỉnh Tiền Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Ngọc Tuyền |