- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông Nguyễn Hữu H yêu cầu được ly hôn với bà Trương Nữ Minh T"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" của ông Nguyễn Hữu H đối với bà Trương Nữ Minh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/HNGĐ-ST Ngày 01 tháng 4 năm 2021 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Phước
Bà Lê Thị Nhớ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 568/2020/TLST-HNGĐ ngày 17-12-2020 về "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 568/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 17-3-2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1984; Địa chỉ: K196 /83 Trần Cao V, phường Tam Th, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Trương Nữ Minh T, sinh năm 1989; Địa chỉ: 69 Lý Thái G, phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai, các Biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn - ông Nguyễn Hữu H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Trương Nữ Minh T đăng ký kết hôn vào ngày 06-9-2014, tại UBND phường Tam Th, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Từ khi kết hôn đến nay, vợ chồng tôi luôn xảy ra cãi vã, bà T có có những lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm với tôi và cha mẹ tôi, đời sống vợ chồng không thể hoà hợp được, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2020 đến nay. Do vậy, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà Trương Nữ Minh T.
- Về con chung: Tôi xác định có 01 (một) con chung là: Nguyễn Tường K, sinh ngày: 20-11-2015. Ly hôn, tôi có nguyện vọng giao con chung cho bà Trương Nữ Minh T nuôi dưỡng, tôi không cấp dưỡng nuôi con do hiện tại không có việc làm.
- Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Tôi xác định không có.
* Theo Bản tự khai, các Biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn - bà Trương Nữ Minh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi thống nhất về điều kiện và thời gian kết hôn như lời trình bày của ông Nguyễn Hữu H. Chúng tôi đến với nhau hoàn toàn tự nguyện và vì tình yêu. Sau khi kết hôn, chúng tôi vẫn chung sống hạnh phúc vui vẻ và 06 tháng sau tôi có em bé. Vợ chồng tôi sống cùng ba mẹ và gia đình chị chồng. Mâu thuẫn bắt đầu xảy ra khi tôi sinh con, do tôi và gia đình chồng không cùng quan điểm trong cách chăm sóc con chung, chồng tôi thì đi làm ăn xa ít quan tâm, chia sẻ với vợ con, giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã vì những nguyên nhân vặt vãnh, va chạm trong cuộc sống chung với gia đình chồng. Tình trạng hôn nhân của chúng tôi mặc dù có mâu thuẫn nhưng tôi không đồng ý ly hôn vì mâu thuẫn chủ yếu sống chung với gia đình chồng nên mới bất hoà. Tôi rất mong Toà án xét xử cho chúng tôi được hoà thuận, đoàn tụ vì tôi không muốn ảnh hưởng đến con cái, không muốn con tôi lớn lên không có cha. Tôi còn yêu thương chồng và rất cần gia đình nhỏ này.
- Về con chung: Tôi xác định có 01 (một) con chung là Nguyễn Tường K, sinh ngày 20-11-2015. Ly hôn, tôi đồng ý nuôi con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tôi xác định không có.
* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình; xử cho ông Nguyễn Hữu H được ly hôn với bà Trương Nữ Minh T; giao 01 (một) con chung là Nguyễn Tường K, sinh ngày 20-11-2015 cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Ông Nguyễn Hữu H và bà Trương Nữ Minh T đăng ký kết hôn vào ngày 06-9-2014 tại Uỷ ban nhân dân phường Tam Th, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Đây là cuộc hôn nhân tự nguyện, hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau quá trình sống chung có với nhau 01 người con thì đến nay ông H có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà T. Nguyên nhân xin ly hôn theo ông H trình bày là vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính tình, quan điểm sống không phù hợp với nhau trong mọi vấn đề, bà T xúc phạm chồng và gia đình bên chồng. Về phía bà T thì cho rằng vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng chỉ là va chạm hàng ngày trong cuộc sống, bà còn yêu thương chồng con nên tha thiết xin được đoàn tụ để hàn gắn gia đình.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Vợ chồng ông Nguyễn Hữu H, bà Trương Nữ Minh T kết hôn từ năm 2014 đến nay đã hơn 06 năm, có với nhau một người con là Nguyễn Tường K, sinh ngày 20-11-2015, cháu còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc đầy đủ của cả cha lẫn mẹ. Nay giữa ông H bà T đã nảy sinh mâu thuẫn trong cuộc sống khiến ông H bức xúc phải xin ly hôn. Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương nơi ông bà sinh sống thì được biết hiện nay ông H, bà T đã sống ly thân và khi còn sống chung thì giữa hai vợ chồng ông H bà T đúng là có xảy ra mâu thuẫn, ồn ào nhưng chưa có gì nghiêm trọng, không có xảy ra đánh đập hay cãi vã gì làm ảnh hưởng đến trật tự địa phương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập các bên đương sự đến làm việc và hòa giải nhiều lần kể cả tại phiên toà sơ thẩm thì bà T đều có mặt và đều có nguyện vọng xin được đoàn tụ. Ngoài ra, bản thân bà T cũng đã nhận lỗi, đôi lúc vì va chạm trong cuộc sống mà không kiềm chế, có lời lẽ xúc phạm. Điều này cho thấy thái độ tha thiết của bà T đối với cuộc hôn nhân này. Xét nguyên nhân khiến ông H xin ly hôn và những mâu thuẫn như ông H, bà T trình bày là có thật nhưng chưa đến mức trầm trọng, có thể khắc phục và cải thiện được. Hội đồng xét xử cân nhắc và quyết định không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Hữu H cũng như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay do chưa đủ căn cứ cho ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nhằm tạo điều kiện và thời gian để cho vợ chồng ông H, bà T có thời gian vun đắp lại hạnh phúc gia đình.
Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn nên các vấn đề về con chung, tài sản chung Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn - ông Nguyễn Hữu H xin ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 63, 147, 266 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" của ông Nguyễn Hữu H đối với bà Trương Nữ Minh T.
2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Hữu H phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002490 ngày 16-12-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng, đã nộp đủ.
3. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Thanh Khê; - Chi cục THADS quận Thanh Khê; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Mai |