vanban.org

Bản án 15/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Hồng Ánh, sinh ngày 29/7/2014. Sau khi ly hôn anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NHUNG-HUY LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND HỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/HNGĐ-ST
Ngày 22/3/2021
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thanh Xuân, ông Dương Minh Thiết.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Cán bộ Tòa án nhân dân Hện L.

Đại viện viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Hện L.

Trong ngày 09/3/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 446/2020/TLST-HNGĐ ngày 18/12/2020về việc tranh chấp Hôn nhân gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22/02/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/QĐST-HNGĐ ngày 09/3/2021 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ: thôn M, xã A, Hện L, tỉnh BG

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn M, xã A, Hện L, tỉnh BG

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị tự nguyện kết hôn với anh Nguyễn Văn H vào ngày 22/10/2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A. Sau khi kết hôn chị về làm dâu nhà anh H ngay. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến khoảng cuối năm 2014 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn to tiếng, cãi nhau do anh H thường ham chơi, rượu chè, không chịu làm ăn, không chăm lo cho vợ con, gia đình. Cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, không có hạnh phúc. Gia đình anh H cũng luôn gây áp lực cho chị, không thương yêu, đồng cảm mà thường xuyên hắt hủi, gây khó dễ cho chị nên cuộc sống gia đình luôn mệt mỏi, không có hạnh phúc. Chị đã nhiều lần cố chịu đựng để chung sống nuôi dậy con chung. Đến khoảng tháng 10/2020 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên chị đã cHển ra chỗ khác ở cho đến nay, không quay lại chung sống cùng anh H nữa. Vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể chung sống cùng nhau được nữa nên chị xin được ly hôn với anh H.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Thị Hồng Ánh, sinh ngày 29/7/2014. Hiện nay cháu Ánh đang ở cùng chị, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ánh.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng chị không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo, bị đơn là anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh xác nhận thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng như chị N trình bày là đúng. Nhưng anh xác định vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị N, mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng phải ly hôn. Vì vậy, anh không đồng ý ly hôn với chị N. Anh muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi con chung. Trường hợp chị N cương quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.

Về con chung: vợ chồng anh có 01 con chung là Nguyễn Thị Hồng Ánh, sinh ngày 29/7/2014. Hiện nay cháu Ánh đang ở cùng chị N, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Ly hôn anh đồng ý để chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ánh.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng anh không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng chị N, anh H không thống nhất thỏa thuận được toàn bộ nội dung vụ án.

Tại phiên tòa: Chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với anh H. Về con chung: chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ánh. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: vợ chồng chị không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Anh H vắng mặt tại phiên tòa lầm thứ hai mà không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện L tham gia phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa anh H vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do chính đáng.

- Nội dung giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Hồng Ánh, sinh ngày 29/7/2014.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn Hện L. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Hện L.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Hện L đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn là chị N có mặt, bị đơn là anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn vào ngày 22/10/2013 tại UBND xã A, Hện L, tỉnh BG. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị N, anh H là hợp pháp.

Về tình trạng hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Lời khai của chị N và anh H phù hợp với biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương đều xác định vợ chồng chị N, anh H có sảy ra nhiều mâu thuẫn to tiếng, cãi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H thường hay uống rượu, ham chơi, không chịu làm ăn, không chăm lo cho vợ con, gia đình. Đến khoảng tháng 10/2020 giữa chị N, anh H mâu thuẫn trầm trọng nên chị N đã cHển ra chỗ khác để ở, không quay lại chung sống cùng anh H nữa. Vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc gì cho nhau.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị N và ý kiến của anh H không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, trong thời gian sống chung vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ về nhân thân, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình, vợ chồng đã sảy ra nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được và ngày càng trầm trọng dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2020 đến nay, việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 luật Hôn nhân gia đình. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh H.

Về con chung: Vợ chồng chị N, anh H có 01 con chung là Nguyễn Thị Hồng Ánh, sinh ngày 29/7/2014. Ly hôn, chị N xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ánh và anh H đồng ý. Vì vậy cần giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ánh.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N, anh H đều không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh Nguyễn Văn H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.

Chị N, anh H có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị N, anh H không có và không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Hồng Ánh, sinh ngày 29/7/2014.

Sau khi ly hôn anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.

Chị N, anh H có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị N, anh H không có và không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0002752 ngày 18/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Hện L, tỉnh BG. Xác nhận chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Cỡ chữ