- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Ngọc Phượng - dặng Quang Dinh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị Ngọc Ph và anh Đặng Quang D.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HT TỈNH BT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15 /2021/HNGĐ-ST Ngày: 12.4.2021 V/v: “Tranh chấp ly hôn, và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ph Đ Kh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị N và bà Trần Thị Ng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Th – Thư ký Tòa án nhân dân huyện HT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Tr – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 234/2020/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2020, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXX- HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2021/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc Ph, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Thôn Ph Tr, xã TH, huyện HT, tỉnh BT. (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Đặng Quang D, sinh năm: 1976. Địa chỉ: Thôn Ph Tr, xã TH, huyện HT, tỉnh BT. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị Ngọc Ph trình bày:
- Về hôn nhân: Giữa chị Lê Thị Ngọc Ph và anh Đặng Quang D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1998, không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng thường xuyên cải vã nhau và anh Đặng Quang D đã đánh chị Ph nhiều lần. Nguyên nhân là do anh Đặng Quang D thường xuyên uống rượu, không lo cho gia đình, không có trách nhiệm gì với gia đình và khi chị Ph góp ý thì anh D đánh đập chị Ph nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Do đó, chị Ph đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Lê Thị Ngọc Ph được ly hôn với anh Đặng Quang D.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh D, chị Ph có 02 con chung gồm: Cháu Đặng Minh C, sinh ngày: 11/8/1999 và Đặng Thị Ngọc O, sinh ngày: 01/12/2003. Nguyện vọng của chị Ph là xin nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Ngọc O cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, không yêu cầu anh Đặng Quang D cấp dưỡng nuôi con.
Riêng cháu Đặng Thị Ngọc C, sinh ngày: 25/4/1996 (là con riêng của chị Ph với chồng trước đã chết) và cháu Đặng Minh C, sinh ngày: 11/8/1999 thì đều đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Hiện hai cháu đã lập gia đình và ở riêng nên không yêu cầu giải quyết.
-Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Tôi tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Bị đơn anh Đặng Quang D đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến và cũng không tham gia phiên tòa.
Đại diện VKSND huyện HT tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Đối với đương sự thì nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn là anh Đặng Quang D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, thấy rằng giữa chị Lê Thị Ngọc Ph và anh Đặng Quang D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1998, không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng thường xuyên cải vã nhau. Nguyên nhân là do anh Đặng Quang D thường xuyên uống rượu, không lo cho gia đình, không có trách nhiệm gì với gia đình và khi chị Phương góp ý thì anh D đánh đập chị Ph. Nay chị Phượng xác định tình cảm giữa chị và anh D không còn, không thể hàn gắn hạnh phúc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh D. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đề nghị Hội đồng xét xử cần được chấp nhận.
Về con chung, đề nghị giao cháu Đặng Thị Ngọc O cho chị Ph nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, anh Đặng Quang D không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy;
Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của tòa án: Hội đồng xét xử thấy rằng đây là tranh chấp ly hôn và nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện HT.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Hơn nữa, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn là anh Đặng Quang D không trình bày ý kiến và cũng không tham gia tố tụng nên xác định bị đơn đã từ bỏ các quyền tham gia tố tụng của mình. Do đó, tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, xác định giữa chị Lê Thị Ngọc Ph và anh Đặng Quang D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1998. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng thường xuyên cải vã nhau và anh Đặng Quang D đã đánh chị Ph nhiều lần. Nguyên nhân là do anh Đặng Quang D thường xuyên uống rượu, không lo cho gia đình, không có trách nhiệm gì với gia đình và khi chị Ph góp ý thì đánh đập nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay chị Ph xác định tình cảm giữa chị và anh D không còn, không thể hàn gắn hạnh phúc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Đặng Quang D.
Theo biên bản xác minh tại nơi cư trú ngày 03/12/2020, có xác nhận của UBND xã TH đã khẳng định nội dung trình bày của nguyên đơn là đúng sự thật. Giữa chị Lê Thị Ngọc Ph và anh Đặng Quang D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1998. Theo chị Lê Thị Ngọc Ph trình bày có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã TH vào năm 1998 nhưng hiện nay đã mất giấy đăng ký kết hôn; Chị Ph có làm đơn xin cấp trích lục giấy đăng ký kết hôn nhưng qua kiểm tra sổ gốc thì không có việc đăng ký kết hôn giữa chị Ph và anh D nên UBND xã TH không thể cấp trích lục giấy đăng ký kết hôn. Về hôn nhân, trong thời gian chung sống thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là anh D thường xuyên nhậu rồi kiếm chuyện gây sự, chửi mắng chị Ph và thậm chí đã đánh chị Ph nhiều lần nên hành vi của anh D đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Ngọc Ph và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị Ph và anh Dcó 02 con chung là: có 02 con chung gồm: Cháu Đặng Minh C, sinh ngày: 11/8/1999 và Đặng Thị Ngọc O, sinh ngày: 01/12/2003. Nguyện vọng của chị Ph là xin nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Ngọc O cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, không yêu cầu anh Đặng Quang D cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu cháu Đặng Minh C, sinh ngày: 11/8/1999 thì đã đủ 18 tuổi và đã lập gia đình và ở riêng nên không yêu cầu giải quyết.
Xét yêu cầu, nguyện vọng của nguyên đơn là có cơ sở nên cần giao cháu Đặng Thị Ngọc O cho chị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về yêu cầu cấp dưỡng: Chị Ph không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về chia tài sản và nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
.Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc Ph phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14, 15, 16, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị Ngọc Ph và anh Đặng Quang D.
2. Về con chung: Giao cháu Đặng Thị Ngọc O, sinh ngày: 01/12/2003 cho chị Lê Thị Ngọc Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con.
3.Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc Ph phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0001841 ngày 08/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện HT.
Án xử công khai, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Án có hiệu lực theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh BT; -VKSND huyện HT; -THA dân sự huyện HT; -Các đương sự; -Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ph Đ Kh |