- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "đòi nợ tiền"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đề ngày 26/02/2021 của Ngân hàng Ch đối với ông Trương Ngọc Th và bà Vũ Thị H;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/DS-ST Ngày 09/6/2021 “V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K, TỈNH K
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hoài.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Long.
2. Ông Nguyễn Danh Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông A Dáo– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh K.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, tỉnh K tham gia phiên tòa: Ông Trần Bá Tài – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2021/TLST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2021/QĐXXST-KDTM ngày 06 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Ch, địa chỉ: Số 169 phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Th - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Ch – Phó Giám đốc NH - Chi nhánh tỉnh K, địa chỉ: 294 Bà Triệu, thành phố K, tỉnh K, có mặt;
- Bị đơn: 1/ Ông Trương Ngọc Th, sinh năm 1988;
2/ Bà Vũ Thị H, sinh năm 1989;
Cùng địa chỉ: Thôn Pli, xã Ch, thành phố K, tỉnh K, cùng vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/2/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:
Ngày 14/11/2017, Ngân hàng Ch – Chi nhánh tỉnh K (Sau đây gọi tắt là: Ngân hàng) đã cho hộ gia đình do ông Trương Ngọc Th và bà Vũ Thị H vay số tiền 30.000.000 đồng, theo mã món vay số 6600000711498021, với lãi suất 0,75%/tháng, lãi quá hạn 130% lái suất cho vay, lãi trả hàng tháng; thời hạn vay 60 tháng, kỳ hạn trả nợ 12 tháng, mỗi tháng 6.000.000 đồng, hạn trả cuối cùng vào ngày 19/11/2022, theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ký ngày 14/11/2017 giữa ngân hàng với ông Th là người đại diện theo ủy quyền của hộ gia đình. Năm 2017 và 2018 ông Th đã trả được 1.112.672 đồng tiền lãi. Sau đó ông Th vi phạm hợp đồng, không trả gố và lãi theo thỏa thuận. Tính đến ngày 09/6/2021 hộ ông Th còn nợ tiền gốc 30.000.000 đồng và lãi trong hạn 8.492.057 đồng.
Nay ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Th và bà H phải trả số tiền nợ gốc và lãi trong hạn là 38.492.057 đồng và tiền lãi phát sinh từ sau ngày 09/6/2021 theo theo thỏa thuận trong hợp đồng.
- Bị đơn ông Trương Ngọc Th và bà Vũ Thị H không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không thực hiện quyền, nghĩa vụ chứng minh, cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp của mình.
- Ý kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS); người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật;
Ông Th và bà H thường xuyên vắng mặt nơi cư trú; chính quyền địa phương không biết ông Th đi đâu và khi nào quay trở về nhà. Do đó Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại nơi cư trú và tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của BLTTDS.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các điều 280, 282, 463, 466, 470, 468 Bộ luật Dân sự; chấp nhận đơn khởi kiện của ngân hàng, buộc ông Th và bà H trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi là 38.492.057 đồng và tiền lãi suất phát sinh từ sau ngày 09/6/2021 đến khi trả hết nợ; buộc ông Th và bà H phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Ngân hàng khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay vốn tín dụng đối với ông Th và bà Huyền. Tại thời điểm thụ lý thì ông bà có nơi cư trú tại Thôn Pl, xã Ch, thành phố K. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum.
- Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần đến nhà để tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng, nhưng bị đơn ông Th và bà H thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú. Tòa án tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương, thì xác định ông Th và bà H có đăng ký hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại địa chỉ: Thôn Pli, xã Ch, thành phố K. Tuy nhiên hiện nay gia đình ông Th thường xuyên vắng mặt ở nhà, chính quyền không biết gia đình ông Th đi đâu và khi nào quay trở về nhà. Do đó Tòa án đã niêm yết công khai thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của của họ, để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định.
- Ông Th và bà H đã được thông báo và triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông Th và bà Huyền.
Về nội dung:
[1] Xét yêu cầu của ngân hàng buộc ông Th và bà H cùng liên đới trả tiền nợ gốc và lãi suất cho ngân hàng, xét thấy: Theo Sổ vay vốn; Sổ theo dõi cho vay; Giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định vào ngày 14/11/2017 Ngân hàng cho hộ ông Th vay số tiền 30.000.000 đồng; năm 2017 và 2018 ông Th đã trả được 1.112.672 đồng tiền lãi, sau đó ông Th vi phạm hợp đồng, không trả gốc và lãi theo thỏa thuận. Tính đến ngày 09/6/2021 hộ ông Th còn nợ tiền gốc 30.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn 8.492.057 đồng.
Về trách nhiệm trả nợ: Trong Sổ vay vốn có quy định về quyền và nghĩa vụ của hộ vay, theo đó hộ gia đình có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay theo thỏa thuận trong sổ vay vốn, chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thỏa thuận về việc trả nợ; và khi vay vốn ông Th và bà H cam kết “Chúng tôi cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích, trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn; chấp hành đúng quy định cho vay của Ngân hàng”. Do đó, ngân hàng yêu cầu ông Th và bà H phải có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 09/6/2021là 38.492.057 đồng và tiền lãi suất phát sinh từ sau ngày 09/6/2021 đến khi trả hết nợ, là có căn cứ được chấp nhận.
[2] Về án phí: Ông Th và bà H phải trả cho ngân hàng số tiền 38.492.057 đồng, nên phải chịu 1.924.600 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, điểm b, d khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 280, 282, 463, 466, 470, 468 Bộ luật Dân sự. Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đề ngày 26/02/2021 của Ngân hàng Ch đối với ông Trương Ngọc Th và bà Vũ Thị H;
2. Buộc ông Trương Ngọc Th và bà Vũ Thị H phải chịu trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng Ch – Chi nhánh tỉnh K số tiền nợ gốc và lãi suất tính đến ngày 09/6/2021 là 38.492.057 đồng (Ba tám triệu, bốn trăm chín hai nghìn, không trăm năm bảy đồng).
Áp dụng án lệ số 08/2016/AL, ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 144, khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Trương Ngọc Th và bà Vũ Thị H cùng phải chịu 1.924.600 (một triệu, chín trăm hai bốn nghìn, sáu trăm) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/6/2021). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND tỉnh Kon Tum; - VKSND TP. Kon Tum; - Chi cục THADS TP.Kon Tum; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. Các Hội thẩm nhân dân tòa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Hoài Thẩm phán – Chủ tọa phiên Nguyễn Xuân Hoài |