vanban.org

Bản án 15/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!TUY!ĐỨC!
TỈNH!ĐĂK!NÔNG!
!
Bản án số: 15/2021/DS-ST
Ngày 28 - 9 - 2021
“V/v tranh chấp hợp đồng tín

dụng”

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!TUY!ĐỨC,!TỈNH!ĐĂK!NÔNG!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quang Trung;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Ngọc Khoa và ông Vũ Đức Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Điểu Smi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tham gia phiên toà: Ông Phạm Ngọc Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2021/TLST- DS ngày 06 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20a/2021/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 20a/2021/QĐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng T; địa chỉ: số 109 T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S – chức vụ Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền:

- Ông Mai H – Chức vụ: Giám đốc chi nhánh; địa chỉ: Đường 23/3, phường Nghĩa Đức, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông – vắng mặt.

- Ông Nguyễn Quang Hợp – Chức vụ: Chuyên viên khách hàng Phòng Giao dịch Tuy Đức; địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện T tỉnh Đăk Nông – có mặt.

Bị đơn: Ông Lê Hoàng A, bà Nguyễn Minh D; địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đăk Nông – vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng T trình bày:

Ngày 01/11/2019, ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Thị Minh Dung có vay Ngân hàng T theo Hợp đồng tín dụng số HDTD67020192610 ngày 30/10/2019, với nội dung: vay số tiền 300.000.000 đồng; thời hạn vay: 24 tháng; mục đích sử dụng vốn: thanh toán các chi phí phát triển nông nghiệp nông thôn; lãi suất: 11,5%/năm.

Tài sản thế chấp đảm bảo cho khỏan vay gồm:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 913133 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đăk Nông cấp ngày 04/09/2019, toạ lạc tại thửa đất số 41, tờ bản đồ 40 tại Bon B, xã Đắk R'Tih, huyện T, tỉnh Đắk Nông mang tên ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Thị Minh Dung.

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 913213do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đăk Nông cấp ngày 28/06/2019, toạ lạc tại thửa đất số 563, tờ bản đồ 35 tại Bon B, xã Đắk R'Tih, huyện T, tỉnh Đắk Nông mang tên ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Thị Minh Dung.

Quá trình vay vốn tại Ngân hàng, ông A, bà D đã không thực hiện đúng các cam kết theo Hợp đồng tín dụng nêu trên, không hợp tác trong việc trả nợ. Ngày 10/11/2020, toàn bộ nợ vay của các hợp đồng tín dụng nêu trên đã chuyển nợ quá hạn và áp dụng lãi suất phạt quá hạn. Tổng số tiền nợ vay Khách hàng Lê Hoàng A còn nợ Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt tạm tính đến ngày 28/09/2021 là 340.188.580 đồng, bao gồm:

Nợ gốc: 264.999.968 đồng.

Nợ lãi trong hạn: 60.241.589 đồng.

Lãi chậm trả gốc: 11.465.854 đồng.

Lãi chậm trả lãi: 3.481.149 đồng.

Do đó, Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án Nhân dân huyện Tuy Đức:

Buộc ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Thị Minh Dung có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ gốc, lãi và lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng số HDTD67020192687 ngày 19/01/2021, tính đến ngày 28/09/2021 là 340.188.580 đồng, và tiền lãi quá hạn phát sinh từ ngày 29/09/2021 cho đến ngày ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Thị Minh Dung trả hết nợ cho Ngân hàng với mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Trong trường hợp Ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Thị Minh Dung không trả nợ hoặc chỉ trả một phần khoản nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền (sau khi có bản án, quyết định của Tòa án) xử lý tài sản đã nêu trên để thu hồi nợ vay. Trường hợp số tiền thu được từ tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán khoản nợ thì cầu ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Thị Minh Dung phải tiếp tục trả số nợ còn lại cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

Quá trình giải quyết vụ án, qua xác minh tại chính Công an xã Đ xác định: Ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D chưa chuyển hộ khẩu đi đâu nhưng hiện nay không có mặt tại địa phương. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D nhưng ông A, bà D vắng mặt, không đến Tòa án làm việc mà không có lý do; không nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và không có ý kiến đối với nội dung vụ án. Do đó, Tòa án huyện T giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức phát biểu ý kiến:

- Toà án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về người tham gia tố tụng và thu thập chứng cứ: Toà án xác định đúng người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng đúng quy định, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn từ khi thụ lý vụ án đã được triệu tập nhiều lần nhưng không hợp tác; tại phiên tòa vẫn vắng mặt không do đó chưa thực hiện đầy đủ các quy định tại Điều 70; Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Ngày 01/11/2019, ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Thị Minh Dung có vay Ngân hàng T vay số tiền 300.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông A và bà D chỉ trả được một phần nợ gốc và lãi; số nợ gốc và lãi còn lại, ông A, bà D không trả như cam kết theo Hợp đồng tín dụng HDTD67020192610, tính đến ngày 28/9/2021, ông A, bà D còn nợ cac khoản sau:

Nợ gốc: 264.999.968 đồng;

Lãi trong hạn từ ngày 31/10/2019 đến ngày 28/9/2021: 60.241.589 đồng

Lãi quá hạn từ 31/10/2020 đến ngày 28/9/2021: 11.465.854 đồng

Lãi chậm trả lãi từ ngày 31/10/2020 đến ngày 28/9/2021: 3.481.149 đồng.

Tổng cộng: 340.188.580 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 299, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D phải trả cho Ngân hàng T số tiền 340.188.580 đồng.

Trường hợp ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D không thanh toán nợ, Ngân hàng T được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện T phát mãi tài sản đảm bảo. Ông A, bà D tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và chịu 17.009.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng T 7.632.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001447 ngày 06/4/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết vào quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tại đơn khởi kiện, Ngân hàng T yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D phải trả tổng số tiền 340.188.580 đồng, do ông A, bà D vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo Hợp đồng tín dụng số HDTD67020192610 mà ông A, bà D đã ký kết với Ngân hàng, đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khi ký kết hợp đồng tín dụng, ông A, bà D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đăk Nông nên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông.

[2]. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, qua xác minh tại chính quyền địa phương xác định: ông A, bà D chưa chuyển hộ khẩu đi đâu, hiện nay không có mặt tại địa phương; Tòa án đã triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị đơn ông A, bà D không đến Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức làm việc; Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho ông A, bà D theo thủ tục chung nhưng bị đơn ông A, bà D không hợp tác, vắng mặt tại địa phương, không đến Tòa án làm việc mà không có lý do; không nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và không có ý kiến đối với nội dung vụ án, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, ông A, bà D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự

[3]. Về nội dung:

[3.1]. Ngày 01/11/2019, ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Thị Minh Dung ký kết hợp đồng tín dụng số HDTD67020192610 với Ngân hàng T vay số tiền 300.000.000 đồng; thời hạn vay: 24 tháng; mục đích sử dụng vốn: thanh toán các chi phí phát triển nông nghiệp nông thôn; lãi suất: 11,5%/năm; lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn; lãi chậm trả lãi: 10%/năm. Xét thấy, hợp đồng được ký kết giữa ông A, bà D và Ngân hàng T là hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ các quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 12 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D không trả nợ như cam kết theo Hợp đồng tín dụng HDTD67020192610 chỉ trả được một phần nợ gốc và lãi.

[3.2]. Đối với số tiền nợ gốc: Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ông A, bà D còn nợ số tiền gốc là 264.999.968 đồng, Ngân hàng đã yêu cầu nhưng ông A, bà D vẫn không trả nợ nên đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo điểm a khoản 8.2 Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số HDTD67020192610, vi phạm Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T, buộc ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D phải trả số tiền gốc là 264.999.968 đồng cho Ngân hàng T.

[3.3]. Đối với yêu cầu trả tiền lãi trong hạn, tiền lãi trên tiền nợ gốc quá hạn, tiền lãi chậm trả lãi: Theo hợp đồng tín dụng số HDTD67020192610 có quy định lãi trong hạn; lãi suất áp dụng với dư nợ gốc quá hạn là 150%/năm, lãi chậm trả lãi là phù hợp với quy định tại điểm a, b khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Tính đến ngày 28/9/2021, ông A, bà D còn phải trả tiền lãi như sau:

Lãi trong hạn từ ngày 31/10/2019 đến ngày 28/9/2021: 60.241.589 đồng

Lãi quá hạn từ 31/10/2020 đến ngày 28/9/2021: 11.465.854 đồng

Lãi chậm trả lãi từ ngày 31/10/2020 đến ngày 28/9/2021: 3.481.149 đồng.

Tổng số tiền ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D phải trả cho Ngân hàng T là 340.188.580 đồng. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

[3.4]. Trường hợp ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý đối với tài sản mà ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D đã thế chấp hợp pháp để trả nợ cho Ngân hàng T theo quy định tại Luật thi hành án dân sự. Trường hợp khi đã xử lý hết tài sản, số tiền thu được không đủ để thanh toán hết nợ thì ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D phải tiếp tục trả số nợ còn lại cho đến khi hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng T được chấp nhận nên ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 17.009.000 đồng.

Trả lại cho Ngân hàng T 7.632.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001447 ngày 06/4/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 12 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 117, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQHĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T đối với ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D.

Buộc ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D phải trả cho Ngân hàng T tổng số tiền 340.188.580 đồng (ba trăm bốn mươi triệu, một trăm tám mươi tám nghìn, năm trăm tám mươi đồng), trong đó: Nợ gốc: 264.999.968 đồng; lãi trong hạn từ ngày 31/10/2019 đến ngày 28/9/2021: 60.241.589 đồng ; lãi quá hạn từ 31/10/2020 đến ngày 28/9/2021: 11.465.854 đồng; lãi chậm trả lãi từ ngày 31/10/2020 đến ngày 28/9/2021: 3.481.149 đồng.

Kể từ ngày 29/9/2021, ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

2. Trường hợp ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn Ngân hàng T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý đối với tài sản mà ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D đã thế chấp hợp pháp để trả nợ cho Ngân hàng T theo quy định tại Luật thi hành án dân sự. Trường hợp khi đã xử lý hết tài sản, số tiền thu được không đủ để thanh toán hết nợ thì ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D phải tiếp tục trả số nợ còn lại cho đến khi hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Minh D phải nộp 17.009.000 đồng (mười bảy triệu, không trăm lẻ chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Trả lại cho Ngân hàng T 7.632.000 đồng (bảy triệu, sáu trăm ba mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001447 ngày 06/4/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

4. Về quyền kháng cáo: đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ