- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Dương Đình B.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/DS-ST Ngày: 31/12/2021 V/v: Yêu cầu bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Nhường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Dũng
Bà Vũ Thị Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Lô Thị Lệ Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ: Không tham gia phiên tòa.
Hôm nay, ngày 31 tháng 12 năm 2021, tại hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 26/2021/TLST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2021 về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2021/ QĐXXST-DS ngày 03/12/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: - Anh Dương Đình B, sinh năm 1993/ có mặt.
Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P - Thái Nguyên.
Bị đơn: - Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1998/ có mặt.
Nơi cư trú: Xóm G, xã N, huyện Đ - Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Dương Đình B trình bày: Khoảng 21h45 phút 01/11/2020 khi sử dụng mạng xã hội Facebook thì anh phát hiện có nhiều bài đăng và lượt chia sẻ thông tin cá nhân và hình ảnh của anh có nội dung sai lệch, mang tính chất bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của bản thân anh từ tài khoản Facebook cá nhân có tên “Spa H T” có rất nhiều nội dung khác nhau. Những nội dung chị T đăng trên mạng xã hội Facebook đã ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến danh dự, uy tín của bản thân anh, gây mâu thuẫn trong gia đình, công việc của anh cũng bị ảnh hưởng. Anh đã phải xin nghỉ việc từ ngày 02/11/2020 đến ngày 30/11/2020 và do suy nghĩ nhiều nên anh đã phải nhập viện để điều trị từ ngày 12/11/2020 đến ngày 23/11/2020. Bản thân chị T ngày 01/6/2021 đã bị Sở Thông tin-Truyền thông tỉnh Thái Nguyên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính chị T về hành vi này với mức phạt 5.000.000 đồng tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPVPHC.
Nay anh B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn là chị Hoàng Thị T phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm tổng số tiền 40.000.000 đồng cho anh B gồm các khoản: Chi phí điều trị tại bệnh viện là 5.000.000 đồng, 01 tháng lương do phải xin nghỉ việc là 25.000.000 đồng, tổn thất về tinh thần là 10.000.000 đồng.
Bị đơn là chị Hoàng Thị T trình bày: Chị và anh B không quen thân gì nhau, chị chỉ biết anh Dương Đình B là bạn trai của chị M, còn chị M là bạn gái của chị. Từ việc chị được biết mẹ con chị M bạn của chị bị anh B đối xử không tốt nên chị đã đăng bài và hình ảnh của anh B lên mạng xã hội Facebook. Nguyên nhân chị đăng hình anh B là do chị bức xúc cho bạn M và tầm nhìn của chị với khách hàng. Việc chị đăng bài cùng ảnh anh Dương Đình B lên mạng xã hội Facebook chị đã được Sở Thông tin-Truyền thông tỉnh Thái Nguyên giải thích, bị xử phạt hành chính và chị nhận thấy mình đã sai nhưng chị T không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh B. Cụ thể về bồi thường một tháng tiền lương (tháng 11 năm 2020) và viện phí anh B nằm viện từ ngày 12/11/20120 đến ngày 23/11/2020 chị không nhất trí bồi thường vì không phải do chị gây ra, chị không làm gì để anh B phải nghỉ việc và đi viện. Còn yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần chị đề nghị Tòa án xem xét cho thấu tình đạt lý vì bản thân chị không cố ý vi phạm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên vẫn giữ nguyên quan điểm không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, do vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa ngày hôm nay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua cuộc thẩm tra tại phiên Tòa, sau khi T luận và nghị án. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ” quy định tại khoản 6 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có nơi cư trú rõ ràng tại xóm Gốc Thị, xã Nam Hòa, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho nguyên đơn, bị đơn đến Tòa án trình bày bản khai, tham gia phiên họp và hòa giải theo quy định của pháp luật.
. Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định được ngày 01/11/2020 anh Dương Đình B phát hiện chị Hoàng Thị T có hành vi đăng bài cùng ảnh anh Dương Đình B lên mạng xã hội Facebook với nội dung mang tính chất hạ thấp danh dự, uy tín của anh B. Hành vi đăng bài cùng ảnh anh Dương Đình B lên mạng xã hội Facebook của chị T đã vi phạm điểm e khoản 3 Điều 102, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ. Bản thân chị T ngày 01/6/2021 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Thu thập, xử lý và sử dụng thông tin của tổ chức, cá nhân mà không được sự đồng ý hoặc sai mục đích theo quy định của pháp luật” với mức phạt 5.000.000 đồng tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPVPHC ngày 01/6/2021 của Chánh thanh tra Sở Thông tin và truyền thông tỉnh Thái Nguyên. Nay anh B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn là chị Hoàng Thị T phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm tổng số tiền 40.000.000 đồng cho anh B gồm các khoản: Chi phí điều trị tại bệnh viện là 5.000.000 đồng, 01 tháng lương do phải xin nghỉ việc là 25.000.000 đồng, tổn thất về tinh thần là 10.000.000 đồng.
Xét yêu cầu của anh B Hội đồng xét xử thấy rằng chị T có lỗi khi đăng bài cùng ảnh anh Dương Đình B lên mạng xã hội Facebook mà không được sự đồng ý của anh B, mục đích, nội dung mang tính chất hạ thấp danh dự, uy tín của anh B. Tuy nhiên hành vi này chỉ gây tổn thất về tinh thần đối với anh B, còn không phải là nguyên nhân dẫn đến anh B phải xin nghỉ việc một tháng và phải nằm viện điều trị từ ngày 12/11/20120 đến ngày 23/11/2020. Trong giấy ra viện của anh B cũng ghi rõ anh B vào viện để điều trị “Cơn thiếu não cục bộ; Hội chứng cổ vai gáy; Viêm gan”. Về chi phí điều trị của anh B đã được Bảo hiểm Y tế chi trả.
Từ nhận định trên, căn cứ vào các Điều 584, 592 Bộ luật dân sự xét yêu cầu khởi kiện của anh Dương Đình B thấy rằng có căn cứ chấp nhận một phần, cần buộc chị Hoàng Thị T phải bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần cho anh Dương Đình B số tiền là 10.000.000 đồng do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí điều trị tại bệnh viện là 5.000.000 đồng và 01 tháng lương do phải xin nghỉ việc là 25.000.000 đồng vì không có cơ sở và căn cứ chấp nhận.
. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nộp ngân sách Nhà nước.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35, 39, 147, Điều 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 584, 592 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Dương Đình B.
[1]. Buộc chị Hoàng Thị T phải bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần cho anh Dương Đình B số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh Dương Đình B có đơn yêu cầu thi hành, chị Hoàng Thị T không tự nguyện thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi được xác định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
[2]. Án phí: Buộc chị Hoàng Thị T phải nộp 500.000 đồng tiền án phí DSST có giá ngạch nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bên đương sự (nguyên đơn, bị đơn) biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND huyện Đ; - THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu VT, HSVA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Hữu Nhường |