vanban.org

Bản án 15/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 20/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy B phạm tội “Trộm cắp tài sản" 1/ Căn cứ: khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Người tham gia tố tụng; VKSND quận Thanh Khê; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Duy B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy B phạm tội “Trộm cắp tài sản" 1/ Căn cứ: khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 56 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số:15/2020/HSST
Ngày 20-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Hoàng Vũ Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Thảo

Bà Nguyễn Thị Thanh Hương Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Chức vụ: Kiểm sát viên. Ngày 20 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 05/2020/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo: Họ và tên: Lê Duy B, sinh ngày 07.6.1996 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 05, phường H 2, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Lê Văn H (s) và bà Dương Nữ Thùy L (s); Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Chưa. Nhân thân: Quyết định số 760/QĐ-UB ngày 04.3.2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong. Quyết định số 77/QĐ-TA ngày 24.10.2016 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng, đã chấp hành xong. Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác. Có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Tĩnh L, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn C, xã Bình Định Nam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở hiện nay: K194/03/02 đường Đ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi liên quan: 1. Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ 40 phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt. 2. Anh Lê Văn Th, sinh năm 1989. Địa chỉ: Tổ 41 phường N, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Minh Y, sinh năm 1995. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 14 tháng 7 năm 2019, Lê Duy B đi bộ đến quán internet Star trên đường Ng, phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để chơi điện tử. Đến 23 giờ 15 phút cùng ngày, B chơi thua hết tiền thì đi bộ về ngang qua nhà số 72 Ng thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza Grande màu đỏ-đen biển kiểm soát 92H1-687.18 của chị Nguyễn Thị Tĩnh L đang dựng dưới lòng đường sát vỉa hè trước nhà, để sẵn chìa khóa điện trên xe nên B nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe 92H1-687.18. Lúc này, B quan sát xung quanh thấy không có ai liền đi đến bên chiếc xe bật chìa khóa đề nổ máy chạy thoát. Sau đó, B liên hệ với anh Nguyễn Thanh Đ để cầm xe. Đến ngày 15/7/2019, B gặp Đ tại một quán game bắn cá nằm trên đường Ch, thành phố Đà Nẵng và cầm chiếc xe trộm cắp trên cho Đ được 3.500.000đồng, Đ sử dụng xe 92H1-687.18 làm phương tiện đi lại. Đến ngày 29/7/2019, Đ chơi game hết tiền và cầm chiếc xe 92H1-687.18 cho anh Lê Văn Th được 2.000.000đồng, Th sử dụng xe 92H1-687.18 làm phương tiện đi lại. Đến 23 giờ ngày 30/7/2019, khi Th đang điều khiển xe 92H1-687.18 lưu thông trên địa bàn phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng thì bị Đồn Biên phòng quận Sơn Trà kiểm tra hành chính và tạm giữ xe do không có giấy tờ xe. Sau khi bị mất trộm xe, đến 23 giờ 50 phút ngày 14/7/2019, anh Nguyễn Quang D đến Công an phường Thanh Khê Tây để trình báo sự việc. Ngày 22/8/2019, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê thông báo truy tìm chiếc xe Yamaha Grande màu đỏ-đen biển kiểm soát 92H1-687.17. Đến ngày 26/8/2019, Đồn biên phòng quận Sơn Trà đã bàn giao chiếc xe trên cho Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê để điều tra, xử lý theo quy định. * Vật chứng tạm giữ:

- 01 xe mô tô Yamaha Nozza Grande màu đỏ-đen BKS 92H1-687.18, số máy E31KE020001, số khung E510KY005700. Ngày 30/8/2019, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Tĩnh L.

- 01 đĩa CD có chứa video trích sao từ camera an ninh lắp đặt trước số nhà 72 Ng, TP. Đà Nẵng vào ngày 14/7/2019 do chị Nguyễn Thị Minh Y giao nộp. Hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án. Theo kết luận định giá tài sản ngày 30/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza Grande màu đỏ-đen BKS 92H1-687.18, số máy E31KE020001, số khung E510KY005700 có trị giá 40.500.000đồng. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê truy tố, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đưa ra xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng tội, đúng pháp luật. Tại Bản cáo trạng số:18/CT-VKS ngày 13 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Duy B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 56 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Duy B từ 18 đến 24 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án hình sự sơ thẩm số:148/2019/HSST ngày 29-11-2019 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án. Về xử lý vật chứng: Qúa trình điều tra, Cơ quan điều tra đã giải quyết, xử lý vật chứng theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, do đó đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thật sự biết ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐINH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành rố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Xét về hành vi phạm tội: Khoảng 23 giờ, 15 phút, ngày 14 tháng 7 năm 2019, Lê Duy B đi bộ về ngang qua nhà số 72 đường Ng thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza Grande màu đỏ-đen, biển kiểm soát 92H1-687.18 (trị giá là 40.500.000đ ) của chị Nguyễn Thị Tĩnh L đang dựng dưới lòng đường sát vỉa hè trước nhà, để sẵn chìa khóa điện trên xe nên B nảy sinh ý định chiếm đoạt. B quan sát xung quanh thấy không có ai liền đi đến bên chiếc xe bật chìa khóa đề nổ máy chạy thoát về nhà cất giấu. Ngày 15/7/2019, B mang mang chiếc xe trên cầm cố cho Nguyễn Thanh Đ được 3.500.000đ để tiền tiêu xài cá nhân. Xét hành vi trên của bị cáo Lê Duy B đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. [3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo nhận thức được việc xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với bản tính lười lao động và muốn nhanh chóng có tiền để thỏa mãn nhu cầu ăn chơi của bản thân nên bị cáo lao vào con đường phạm tội. Hành vi trên của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội và gây ra tâm lý lo lắng trong nhân dân. Do đó, cần phải xét xử với mức án thật nghiêm minh để có tính chất giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm. [4] Về nhân thân: Căn cứ vào trích lục tiền án, tiền sự của Phòng hồ sơ Công an thành phố Đà Nẵng và lý lịch bị cáo thể hiện: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu đã có 02 tiền sự, đã từng bị đưa vào trường giáo dưỡng và đưa đi cai nghiện, nhưng bị cáo vẫn không tu tâm dưỡng tính mà lại tiếp tục phạm tội, do đó khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét về nhân thân của bị cáo theo quy định Điều 50 của Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo mức án phù hợp. [5] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự sẽ được HĐXX xem xét áp dụng cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. [6] Xét bị cáo Lê Duy B đã bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 theo bản án hình sự sơ thẩm số:148/2019/HSST ngày 29-11-2019. Do đó, HĐXX căn cứ vào Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp với bản án mới, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án. [7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, do đó HĐXX không xem xét giải quyết. Đối với Nguyễn Thanh Đ đã có hành vi cầm cố chiếc xe trên với số tiền là 3.500.000đ, nhưng Đ không biết tài sản trên do B trộm cắp mà có. Do túng tiền nên Đ đã đem chiếc xe trên cầm cố để mượn của Lê Văn Th 2.000.000đ. Tài sản trên đã bị thu hồi trả lại cho chủ sở hữu chị Nguyễn Thị Tĩnh L. Qúa trình điều tra, Đ và Th không có mặt tại địa phương nên không có căn cứ để xác định Đ có yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên hay không. Do đó, HĐXX không xem xét giải quyết. Sau này, khi có yêu cầu đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự. [8] Về xử lý vật chứng: Qúa trình điều tra, Cơ quan điều tra đã giải quyết, xử lý vật chứng theo đúng quy định của pháp luật. Do đó HĐXX không xem xét giải quyết. [9] Về án phí: Bị cáo Lê Duy B phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự theo quy định tại Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy B phạm tội “Trộm cắp tài sản" 1/ Căn cứ: khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 56 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Duy B 02 (hai) năm tù. Tổng hợp với 02 (hai) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số:148/2019/HSST ngày 29-11-2019 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm tù. Thời gian thụ hình tính từ ngày 05 tháng 11 năm 2019. 2/ Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội; Tuyên xử: Buộc bị cáo Lê Duy B phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm 3/ Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết kết quả xét xử tại nơi cư trú./.

Cỡ chữ