vanban.org

Bản án 15/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 08/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ RIỀNG
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HSST
Ngày: 08/5/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Danh Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Hanh

Bà Trần Thị Thanh Miên

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Chu Ngo ̣c Phú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 25/2020/HSST ngày 25 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Văn V, sinh năm 1978 tại Hà Nội; HKTT: Thôn Đ, xã X, huyện M, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 3/12; Con ông Vũ Văn U, sinh năm 1947 và bà Trần Thị N, sinh năm 1947; Vợ là bà Trương Thị N, sinh năm 1976 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2020 cho đến nay, “có mặt”.

*Người bị hại:

Bà Đỗ Thị Thu T, sinh năm 1970 (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Phước Lộc, sinh năm 1993 (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước

Ông Lê Văn Ý, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn C, xã R, huyện F, tỉnh Bình Phước

Ông Vũ Văn T, sinh năm 1975 (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn T, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn V là hàng xóm với gia đình bà Đỗ Thị Thu T.

Khoảng 14 giờ ngày 10/01/2020, V đi bộ từ nhà ra quán mua nước uống. Khi đi ngang qua nhà bà T thì V phát hiện trong căn nhà gỗ của gia đình bà T có dựng một xe mô tô hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu đen – bạc, biển số: 93H1 – 149.75 không có ai trông coi nên V nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô bán lấy tiền để tiêu xài cá nhân. V đi đến trước cửa nhà gỗ dùng tay giật mạnh làm bung móc khóa cửa rồi vào lấy xe mô tô dắt bộ ra đường. Do xe không có chìa khóa nên V dắt xe đến tiệm sửa xe của ông Phạm Văn T nhờ ông T làm nổ máy xe. Ông T nói với Nguyễn Văn P (là người học việc tại cửa tiệm) nối diện để nổ máy xe cho V. Sau đó, V điều khiển xe xuống xã Phú Riềng để tìm chổ tiêu thụ. Trên đường đi, V dừng lại thò tay vào trong cốp xe lấy ra 01 giấy phép lái xe mang tên Đỗ Thị Thu T và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 93H1 – 149.75 mang tên Nguyễn Phước L. Sau đó, V ghé vào một tiệm sửa chữa khóa ven đường (không rõ địa chỉ) để thay khóa xe rồi điều khiển xe đến tiệm mua bán xe mô tô “Quốc Hưng” tại thôn A , xã R, huyện B do ông Lê Văn A làm chủ và bán xe mô tô cho ông A với giá 8.000.000 đồng. Số tiền có được V dùng để mua ma túy và tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 17/01/2020, Vũ Văn V đến công an xã B, huyện C đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Quá trình điều tra đã thu giữ các vậy chứng và đồ vật liên quan gồm:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu đen, bạc, biển số 93H1-149.75, số máy C12E-5460395, số khung: 1214DY460338

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 016537, mang tên Nguyễn Phước L.

- 01 giấy mua bán xe ngày 10/01/2020 của cửa hàng mua bán xe máy “Quốc Hưng”.

- 01 giấy phép lái xe hạng số AY 611804, mang tên Đỗ Thị Thu T;

- 01 quần sọt (ngắn), màu xám, phía sau quần có dòng chữ “CLASSIC”; 01 áo sơ mi sọc trắng xanh; 01 mũ lưỡi trai màu đen, có dòng chữ “TRAVELCAMP”.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 09/KL.HĐĐG ngày 20 tháng 01 năm 2020 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Phú Riềng kết luận tại thời điểm ngày 10/01/2020: 01 (một) xe mô tô, biển số: 93H1-149.75, hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu đen - bạc có giá trị là 5.700.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 20/CTr-VKS ngày 24/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Trong phần luận tội, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Văn V mứ c án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng và trách nhiê ̣m dân sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát Viên , bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã xác định được: Do lười lao động muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 14 giờ, ngày 10/01/2020, bị cáo Vũ Văn V đã lén lút chiếm đoạt của bà Đỗ Thị Thu T 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu đen – bạc, biển số: 93H1 – 149.75 có giá trị còn lại là 5.700.000đ (Năm triệu bảy trăm nghìn đồng).

Hành vi trên của bị cáo Vũ Văn V đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, hoang mang trong quần chúng nhân dân nơi bị cáo thực hiện việc phạm tội. Bị cáo lợi dụng sơ hở của người bị hại để thực hiện hành vi chiếm đoạt. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương x ứng để giáo dục, cải tạo bi ̣ cáo và phòng ngừ a chung trong xã hội.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, học vấn bị cáo thấp nên nhận biết pháp luật còn hạn chế, ngoài ra tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện Phú Riềng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với việc M khai nhận có mua ma túy của một người (chưa xác định nhân thân, lai lịch) ở xã B để sử dụng, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau nên HĐXX không xem xét.

Đối với Lê Văn A, quá trình điều tra xác định khi mua xe mô tô của V thì A không biết nguồn gốc xe mô tô là do V phạm tội mà có, hành vi của A không cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có HĐXX không xem xét

Đối với Phạm Văn T và Nguyễn Văn P là người đã sửa xe cho V, quá trình điều tra xác định khi đến sửa xe thì V nói là xe của V bị mất chìa khóa, T và P không biết là xe trộm cắp mà có nên HĐXX không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô biển số 93H1-149.75 quá trình điều tra xác định bà T mua xe mô tô này vào ngày 08/12/2014 cho Nguyễn Phước L (con trai bà T) làm phương tiện đi lại. Đến khoảng tháng 8/2018, Lộc đã trả lại xe này cho bà T để sử dụng làm phương tiện đi lại; giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Phước L và giấy phép lái xe mang tên Đỗ Thị Thu T đây đều là tài sản hợp pháp của bà T. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T nên HĐXX không xem xét.

Đối với 01 quần sọt (ngắn), màu xám, phía sau quần có dòng chữ “CLASSIC”, 01 áo sơ mi sọc trắng xanh, 01 mũ lưỡi trai màu đen đây là tài sản của V đã không còn giá trị sử dụng, V cũng không có yêu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 giấy mua bán xe ngày 10/01/2020 của cửa hàng mua bán xe máy “Quốc Hưng” đã chuyển theo hồ sơ vụ án.

Đối với số tiền 8.000.000 đồng V có được từ việc bán xe mô tô thì V đã sử dụng để mua ma túy và tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan điều tra không thu hồi được nên HĐXX không xem xét.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên;

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Văn V 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2020.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 quần sọt (ngắn), màu xám, phía sau quần có dòng chữ “CLASSIC”, 01 áo sơ mi sọc trắng xanh, 01 mũ lưỡi trai màu đen

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0011662 ngày 20/3/2019 giữa Công an huyện Phú Riềng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Riềng)

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết án phí, lệ phí bị cáo Vũ Văn V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ