- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trũ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm "
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2020/ HSST Ngày: 28/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Đức Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hải.
2. Ông Nguyễn Đình Nhàn.
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đô Lương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương – tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thuỳ Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2020/HSST ngày 20/01/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình L, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1991. Nơi cư trú: xóm 06, xã Quang Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Sơn, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Hồng (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Linh, sinh năm 1992; con: có hai con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2019 đến ngày 19/12/2019 áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2018, Nguyễn Đình L sinh năm 1991, trú tại xóm 8, nay là
xóm 6, xã Quang Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, trong khi đang lái xe taxi chở khách, khi nghe người khách đang nói chuyện mua bán pháo với ai đó, L đã hỏi tên người đó giới thiệu tên là Dũng, người Nghi Lộc, L hỏi xin số điện thoại của người đó.
Vào khoảng 20 giờ ngày 15/12/2019, Nguyễn Đình L ở nhà của mình
dùng điện thoại của mình gọi vào số 0972818977 của người đàn ông tên Dũng, mà năm 2018 L có chở đi taxi của mình hỏi có pháo bán không, người đàn ông trả lời có loại pháo 36 quả. L hỏi bao nhiêu tiền một cối (hộp), người đó trả lời 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng). L đồng ý và hỏi mua 15 cối (hộp) pháo loại 36 quả để về sử dụng và hẹn khi nào có thì giao pháo ở khu vực ngã tư đường N5 đường vào xóm 8, nay là xóm 6 xã Quang Sơn, huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An. Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/12/2019 Nguyễn Đình L đang ở nhà thì thấy Dũng gọi ra đường N5 lấy pháo. L đi bộ một mình từ nhà đi ra điểm hẹn thì thấy có một người đàn ông đi xe máy chở theo sau một thùng cát tông đang đứng đó, mặt bịt khẩu trang, đầu đội mũ bảo hiểm. Để xác nhận người đó là Dũng, L gọi điện thoại cho Dũng, thì thấy người đó nhấc điện thoại nên L đi lại gần đưa cho Dũng 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), còn Dũng đưa thùng cát tông chứa pháo cho L rồi Dũng lên xe máy đi về, L một mình ôm thùng cát tông đi ra về, đi được khoảng 5 mét thì L bị tổ tuần tra Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Nghệ An yêu cầu kiểm tra thu giữ trong thùng cát tông của L có 13 cối pháo nên đã niêm phong lại, lập biên bản quả tang, rồi đưa về trụ sở để làm việc.
Vào lúc 15 giờ 30 phút, ngày 16/12/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra
Công An tỉnh Nghệ An đã tiến hành lập Hội đồng mở niêm phong và xác định khối lượng 13 (mười ba) khối hình hộp, mỗi hộp có kích thước (15x15x14) cm bên trong có chứa 36 thỏi hình trụ tròn liên kết với nhau thu giữ của Nguyễn Đình L có trọng lượng là 17,84 kg và lấy 02 khối hình hộp có khối lượng 2.68 kg để gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 11/KL-PC09 (Đ2-CN) ngày 19/12/2019
của Phòng kỹ thuật hình sự Công An tỉnh Nghệ An, kết luận: Mẫu vật (khối hình hộp có kích thước 15x15x14cm, bên ngoài bọc giấy bóng có in hình hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong có 36 thỏi hình trụ tròn liên kết với nhau) thu giữ của Nguyễn Đình L gửi tới giám định là pháo có đầy đủ đặc tình của pháp nổ (có chứa pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ.
Vật chứng của vụ án:
Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công An tỉnh Nghệ An đã
thu giữ 01 thùng cát tông bên trong có chứa 13 hộp pháo. Đã sử dụng 02 hộp làm mẫu để trưng cầu giám định, còn lại 11 hộp pháo hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
+ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu itel đã qua sử dụng, vỏ màu vàng, số
IMEL 1:357001094018063 và IMEL2: 357001094018071 bên trong máy có 02 số sim 0975255728 và 0981178318.
Tại bản Cáo trạng số: 17/CT-VKS- HS ngày 17/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố Nguyễn Đình L về tội “ Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điểm i, s, t Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đình L khai nhận hành vi phạm tội của mình, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đình L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa kết luận: Có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Đình L phạm tội "Tàng trữ hàng cấm" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 191 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Vào khoản 10 giờ 30 ngày 16/12/2019, tại khu vực ngã tư đường N5 vào xóm 6, xã Quang Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Đình L đã có hành vi tàng trữ 13 bịch pháo nổ với trọng lượng 17,84 kg mục đích để sử dụng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo Nguyễn Đình L về tội "Tàng trữ hàng cấm" theo điểm c khoản 1 điều 191 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có cơ sở.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Đây là vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, pháo là sản phẩm rất nguy hiểm được nhà nước quản lý chặt chẽ, việc tàng trữ trái phép pháo nổ là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về cháy nổ và các tai nạn thương tâm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an xã hội, gây hoang mang dao động trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân, gây tâm lý bất an trong xã hội. Chính vì vậy đưa các bị cáo ra xét xử công khai tại phiên toà hôm nay và lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Bị cáo Nguyễn Đình L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần này là lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo có ông, bà nội là người có công với cách mạng được thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, t khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Do bị cáo L có nhân thân tốt, phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xét chỉ cần lên cho các bị cáo án treo đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng qua xác minh của cơ quan điều tra thì các bị cáo đang sống chung với vợ con tài sản không có gì đáng giá vì vậy không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Trong vụ án này, có đối tượng không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể đã bán pháo cho L. Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương đang tiếp tục điều tra làm rõ và đề nghị xử lý sau.
Về vật chứng và xử lý vật chứng: Đối với 11 hộp pháo nổ là vật cấm lưu thông nên cần tịch thu tiêu huỷ. Chiếc điện thoại hiệu itel đã qua sử dụng, vỏ màu vàng bên trong máy có hai sim là vật dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội; buộc bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm "
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; Điểm i, s, t Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Đình L. 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/02/2020).
Giao bị cáo Nguyễn Đình L cho UBND xã Quang Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 11 khối pháo nổ trong một thùng giấy hình chữ nhật màu vàng được niêm phong đúng quy định.
( Số vật chứng trên có tại kho vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương).
Tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại hiệu itel đã qua sử dụng, vỏ màu vàng bên trong máy có hai sim số 0975.255.728 và 0981.178.318.
(Vật chứng trên có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương).
3. Bị cáo Nguyễn Đình L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Đình L có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - - VKSND huyện Đô Lương; - - Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An; - - Công an huyện Đô Lương; - - THADS huyện Đô Lương; - - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - - Bị cáo; - - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Anh |