- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn B phạm tội ' Trộm cắp tài sản' - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Bị cáo Lò Văn B phải chịu 200.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2020/HS-ST Ngày 19-03-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thanh Hà
2. Bà Nguyễn Thị Hằng
Thư ký phiên toà: Bà Trần Bích Thủy – Thư ký Toà án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Trịnh Ngọc Thạch - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 03 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 03 năm 2020 đối với bị cáo.
Lò Văn B, Tên gọi khác: Lò Văn V- Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1969 tại huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.
ĐKHKTT: Khu 12, xã T, huyện H, tỉnh P; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn Lám (đã chết), con bà Lò Thị Song. Bị cáo có 02 vợ: vợ thứ nhất: Lì Thị Thanh ( đã chết) vợ thứ 2: Trần Thị Tuyến sinh năm 1973 ,bị cáo có 02 con lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1991. Tiền án; Không Tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu tại bản án số 21 ngày 14/04/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu (Nay là tỉnh Điện Biên) xử phạt 06 năm tù giam về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” bị cáo đã thi hành xong bản án đến nay đã được xóa án tích. Ngày 02/04/ 2003 Lò Văn B (Lò Văn V) bị Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu ra quyết định số 361 đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc 02 năm. Đến ngày 27/5/2005 chấp hành xong quyết định trở về địa phương. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai (Có mặt tại phiên tòa).
- Luật sư bào chữa: Bà Bùi Thị N – sinh năm 1987 Là trợ giúp viên pháp lý. Nơi làm việc: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Có mặt tại phiên tòa).
- Người bị hại:
Anh Nguyễn Hữu T – Sinh năm 1973
Địa chỉ: Số nhà 075, đường N, phường V, thành phố L, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt)
Anh Đỗ Thanh L –sinh năm 1974
Địa chỉ: Tổ 41, phường V, thành phố L, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 25/9/2019 một người đàn ông tên K rủ Lò Văn B đi bộ lang thang tại khu vực gần cầu Ngòi Đum, phường B, thành phố L nhằm mục đích thấy nhà ai sơ hở sẽ trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực đường N12 thuộc tổ 25, phường B, thành phố L thì thấy một ngôi nhà đang xây dựng nên cả hai đã đi vào trong tìm tài sản để trộm cắp; Lò Văn B thấy anh Đỗ Thanh L và anh Nguyễn Hữu T đang ngủ trưa tại khu vực cầu thang lên xuống giữa tầng 1 và tầng 2, bên cạnh anh Đỗ Thanh L có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6 màu đen và bên cạnh anh Nguyễn Hữu T có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A9s màu xanh. Quan sát thấy anh Đỗ Thanh L và anh Nguyễn Hữu T đang ngủ say nên Lò Văn B đã lấy chiếc điện thoại Samsung J6 màu đen,còn Khải lấy chiếc điện thoại Samsung Galaxy A9s màu xanh trên. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Lò Văn B cầm 02 (hai) chiếc điện thoại mà cả hai vừa trộm cắp được ra khu vực cầu Kim Tân mục đích tìm người để bán thì bị tổ công tác Công an thành phố L tiến hành kiểm tra hành chính, tạm giữ vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6 màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A9s màu xanh mà Bọn đã trộm cắp. Ngay sau khi mất tài sản, anh Đỗ Thanh L và anh Nguyễn Hữu T đã làm đơn trình báo.
Ngày 26/9/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L yêu cầu định giá tài sản số 80. Tại kết luận định giá tài sản số 77 ngày 30/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố L kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6 màu đen có giá 1.500.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A9s màu xanh có giá 995.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 2.495.000đ (Hai triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
Bị hại trong vụ án này là anh Đỗ Thanh L và anh Nguyễn Hữu T. Quá trình điều tra anh Đỗ Thanh L và anh Nguyễn Hữu T đã nhận lại tài sản là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6 màu đen,01điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A9s màu xanh. Sau khi nhận lại tài sản anh Đỗ Thanh L và anh Nguyễn Hữu T không yêu cầu bị cáo Lò Văn B phải bồi thường gì và đề nghị xử lý Lò Văn B theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 14/KSĐT ngày 19/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L truy tố bị cáo Lò Văn B (Lò Văn Vọn) về tội "Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lò Văn B về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố là khoản 1 điều 173- Bộ luật Hình sự . Vì vậy sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo đại diện Viện kiểm sát thành phố L đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 ; Điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo với mức án từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn B.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại, theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Luật sư bào chữa trình bày lời bào chữa đối với bị cáo Lò Văn B (tên gọi khác Lò Văn Vọn). Đề nghị Hội đồng xét xét xử căn cứ và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h,s ,i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội “ Trộm cắp tài sản” xử phạt bị cáo với mức án từ 06 (Sáu) tháng tù giam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để kết luận ngày 25/09/2019 bị cáo Lò Văn B đã thực hiện hành vi trộm cắp của anh Đỗ Thanh L và anh Nguyễn Hữu T, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6 màu đen và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A9s màu xanh. Tổng trị giá tài sản bị cáo trộm cắp là 2.495.000đ (Hai triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng) Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173- Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước Tòa là hoàn toàn chính xác.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội,bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Nhưng bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu rèn luyện bản thân, chiếm đoạt tài sản của người khác mục đích để tiêu sài cho bản thân, bị cáo đã coi thường pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có nhân thân xấu tại bản án số 21 ngày 14/04/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu (Nay là tỉnh Điện Biên) xử phạt 06 năm tù giam về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” bị cáo đã thi hành xong bản án đến nay đã được xóa án tích. Ngày 02/04/ 2003 Lò Văn B (Lò Văn Vọn) bị Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu ra quyết định số 361 đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc 02 năm. Đến ngày 27/5/2005 chấp hành xong quyết định trở về địa phương. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt. Xong xét thấy bị cáo sau khi phạm tội thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, gây thiệt hại không lớn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đỗ Thanh L và anh Nguyễn Hữu T sau khi đã nhận lại được tài sản đã không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về trách nhiệm dân sự.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn B (tên gọi khác Lò Văn V) phạm tội “Trộm cắp tài sản’’. Xử phạt bị cáo Lò Văn B (tên gọi khác Lò Văn V) 09 (Chín) tháng tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 16/12/2019.
Về án phí: Bị cáo Lò Văn B phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, luật sư có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh - VKS thành phố - THA dân sự; - PV 27; - CATP (2) - Bị cáo; bị hại, luật sư - Lưu HS – TA, THA. | Đỗ Thị Thanh Hƣơng |