- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn Bốn - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? * Về tội danh: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố Bị cáo Lý Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2020/HS- ST Ngày: 10/3/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
--------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hùng
Ông Nguyễn Sơn Hải
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tất Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện S, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 137/2019/TLST- HS ngày 31 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HS, ngày 30/01/2020; quyết định hoãn phiên tòa số 06/2020/HSST- QĐ ngày 21/02/2020, đối với:
1. Bị cáo: Lý Văn B - sinh ngày 02/02/1995, tại Tuyên Quang
Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn T sinh năm 1968; con bà: Dương Thị X, sinh năm 1962; vợ: Dương Thị H – sinh năm 2000. Con có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)
2. Bị hại: Anh Dương Văn Tr, sinh năm 1996. Trú tại: thôn N, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1996. Trú tại: thôn N, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 13/10/2019, sau khi ăn cơm uống rượu xong, Lý Văn B cùng một số bạn bè đến quán trà sữa của Anh Hoàng Văn T ở thôn N, xã N để uống nước. Sau đó Bốn lấy điện thoại của bạn gọi điện hẹn Dương Văn T đang đi làm công nhân ở Vĩnh Phúc về quán anh T để nói chuyện. Khoảng 22 giờ cùng ngày Dương Văn T về đến quán anh T, do đã có mâu thuẫn từ trước nên B và T lao vào đánh nhau bằng chân tay thì được mọi người can ngăn và đẩy B vào quán trà sữa của anh T. Ngay sau đó B cầm 01 ghế khung kim loại chiều cao 45cm, bề mặt ghế ngồi bằng gỗ hình tròn, đường kính 29,5cm, ghế có 04 chân, dưới đế có thanh kim loại hình tròn chạy ra vụt 01 phát từ trên xuống dưới trúng vào phần đầu của Dương Văn T, sau đó B tiếp tục dùng tay đấm 02 nhát vào phần mặt của Dương Văn T. Thấy vậy mọi người can ngăn và đưa Dương Văn T đến bệnh viện đa khoa huyện S điều trị.
Tại Bản kết luận pháp y về thương tích số 245/2019/TgT ngày 07/11/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang kết luận: Vùng thái dương phải trong chân tóc 02cm có sẹo hình cung kích thước (4,5 x 0,2)cm, sẹo màu hồng, mềm, phẳng, bờ mép gọn; Vùng thái dương trái phía ngoài đuôi cung lông mày trái có sẹo kích thước (1,5 x 0,15)cm, sẹo màu hồng, mềm, phẳng, bờ mép không gọn. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%. Thương tích để lại sẹo như vậy do vật tầy tác động gây nên.
Tại công văn số 37/CV-TTPY ngày 12/12/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang xác định về thương tích của Dương Văn T, trong đó: vết thương để lại sẹo vùng thái dương phải tổn hại 02% sức khỏe, vết thương để lại sẹo phía ngoài đuôi cung mày trái tổn hại 01% sức khỏe.
Trên cơ sở kết luận điều tra, ngày 30/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện S ban hành Cáo trạng số 01/CT- VKS truy tố bị cáo Lý Văn B về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện S giữ nguyên nội dung cáo trạng, truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự (BLHS), xử phạt bị cáo Lý Văn B từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng.
- Áp dụng: Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 ghế khung kim loại đã thu giữ.
- Áp dụng điều 48 Bộ luật Hình sự, các điều 357, 468, 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 4.000.000đ (bốn triệu đồng).
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo khai do bị cáo và Trường có mâu thuẫn từ trước, hai bên không giải quyết được nên dẫn đến đánh nhau. Bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo không trình bày ý kiến gì.
Bị hại Dương Vương Trường trình bày nội dung vụ án đúng như cáo trạng Viện Kiểm sát đã truy tố, đề nghị HĐXX xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật và buộc bị cáo bồi thường số tiền còn thiếu theo thỏa thuận là 4.000.000đ như đã thỏa thuận. Nếu bị cáo bồi thường hết thì xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lý Văn B thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, bệnh án, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở kết luận: khoảng 22 giờ ngày 13/10/2019, tại quán trà sữa của Anh Hoàng Văn T thuộc thôn N, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, do có mâu thuẫn từ trước nên Lý Văn B đã thực hiện hành vi dùng 01 ghế khung kim loại có 04 chân, chiều cao 45cm, bề mặt ghế ngồi bằng gỗ hình tròn đường kính 29,5cm, dưới đế có thanh kim loại hình tròn (thuộc loại hung khí nguy hiểm) vụt 01 nhát từ trên xuống dưới trúng phần đầu của Anh Dương Văn Tr, sau đó bị cáo đấm liên tiếp 2- 3 phát vào vùng mặt của T. Hậu quả làm Anh Dương Văn Tr phải đi cấp cứu, tổn hại 03% sức khỏe. Trong đó vết thương do dùng ghế kim loại đập vào vùng thái dương tổn hại 2% sức khỏe, vết thương do dùng tay đấm vào vùng mặt tổn hại 1% sức khỏe. Do hành vi gây thương tích của bị cáo là liên tiếp, không gián đoạn về thời gian nên thương tích do bị cáo gây ra cần xem xét xử lý trong cùng vụ án, không cần thiết tách thương tích 1% để đề nghị xử lý hành chính.
Bị cáo Lý Văn B nhận thức trước được việc dùng ghế khung kim loại đập vào đầu người khác là nguy hiểm, có thể gây thương tích nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi với mong muốn hậu quả thương tích sẽ xảy ra. Do vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại các điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ chấp nhận.
Xét tính chất, vai trò, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX nhận định: Xuất phát từ việc mâu thuẫn nói xấu nhau không giải quyết được dẫn đến bị cáo và Dương Văn T đánh nhau. Bị cáo chưa tìm hiểu nói chuyện rõ ràng, đưa ra lý lẽ căn cứ để chứng minh rằng bị hại nói xấu mình nhưng đã lao vào đánh bị hại. Trong quá trình đánh nhau mặc dù biết trước hậu quả gây thương tích có thể xảy ra nhưng vì muốn đạt được mục đích đánh Trường nên bị cáo vẫn thực hiện .Vì vậy lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, động cơ, mục đích để gây thương tích cho bị hại. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thực được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa bị cáo bồi thường cho bị hại được số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hướng xử lý: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác. Sau khi gây thương tích bị cáo chưa có ý thức thăm hỏi, bồi thường khắc phục hậu quả, tại phiên tòa bị cáo mới bồi thường được một phần cho bị hại. Vì vậy căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX xét thấy chỉ cần xét xử bị cáo hình phạt tù mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ răn đe giáo dục đối với bị cáo. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tuy nhiên qua xác minh tại địa phương và lời khai tại phiên tòa cho thấy trong thời gian được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo thường xuyên đi khỏi địa phương, không thực hiện đúng nội dung cam kết tại các cơ quan tiến hành tố tụng. Giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo không chấp hành việc triệu tập của Tòa án để nhận các quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, Tòa án phải tiến hành xác minh niêm yết bị cáo mới có mặt. Tại phiên tòa bị cáo khai nhiều lần đi khỏi nơi cư trú đến các tỉnh thành như Vĩnh Phúc, Hà Nội để giải quyết công việc như tổ chức đám cưới, đi lấy xe máy... nhưng không báo cáo và được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền. Điều đó cho thấy bị cáo chưa có ý thức chấp hành pháp luật, thường xuyên đi khỏi nơi cư trú. Vì vậy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo, đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: tại phiên tòa bị hại và bị cáo thống nhất thỏa thuận: bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tổng số tiền là 7.000.000đ.(bảy triệu đồng). Ghi nhận bị cáo đã bồi thường trước cho bị hại số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng). Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền còn lại là 4.000.000đ (bốn triệu đồng).
Đối với hành vi của Dương Văn T dùng tay chân đánh Lý Văn B, do trên cơ thể Lý Văn B không phát hiện dấu vết tổn thương nên ngày 16/12/2019 Công an huyện S đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Dương Văn T bằng hình thức phạt tiền.Vì vậy HĐXX không đề cập xử lý.
Về vật chứng: 01 ghế khung kim loại chiều cao 45cm, bề mặt ghế ngồi bằng gỗ hình tròn đường kính 29,5cm, ghế có 04 chân, dưới đế có thanh kim loại hình tròn là công cụ phương tiện phạm tội, tài sản của Anh Hoàng Văn T nhưng anh T không có yêu cầu gì, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Về tội danh: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố Bị cáo Lý Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
* Về hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Văn B 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các điều 357, 468, 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự, tuyên:
Bị cáo Lý Văn B phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Dương Văn T số tiền là 4.000.000đ (bốn triệu đồng).
Khoản tiền phải bồi thường, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm trả thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
* Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 ghế khung kim loại chiều cao 45cm, bề mặt ghế ngồi bằng gỗ hình tròn đường kính 29,5cm, ghế có 04 chân, dưới đế có thanh kim loại hình tròn.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S ngày 31/12/2019).
* Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên: bị cáo Lý Văn B phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tổng cộng bị cáo Lý Văn B phải chịu 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền án phí.
* Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần quyền và nghĩa vụ có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/3/2020). Vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện S; - Công an huyện S; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS huyện S; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - UBND xã N; - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Sơn Hải Hoàng Văn Hùng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Toàn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Toàn |