vanban.org

Bản án 15/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Tuyên án 12/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!CẨM!GIÀNG
TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số: 15/2020/HS-ST
Ngày: 12-3-2020
!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CẨM!GIÀNG,!TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quang Miên;!!

Ông Hoàng Hồng Hà;!

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Tống Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2020/TLST-HS ngày 27- 02-2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST-HS ngày 02-3-2020 đối với bị cáo:

!Phạm! Văn! T, sinh năm 1991 tại CV, huyện CG, tỉnh HD; nơi cư trú: thôn VT, xã CV, huyện CG, tỉnh HD; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 7/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Hoàng Thị T; có vợ là Nguyễn Thị M, sinh năm 1991 và 02 con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03-01-2020; chuyển tạm giam từ ngày 06-01-2020 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi Công an tỉnh Hải Dương; có mặt.

*Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1997; trú tại: thôn VT, xã CV, huyện CG, tỉnh HD (vắng mặt).

2.!Anh Nguyễn Tiến X, sinh năm 1984; trú tại: thôn HL, xã CV, huyện CG, tỉnh HD(vắng mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn T là đối tượng sử dụng ma túy. Vào khoảng cuối tháng 12/2019, T đến khu vực xã Đức Chính, huyện Cẩm Giàng mua của một người phụ nữ tên Dung, khoảng 40 tuổi (không rõ địa chỉ) 01 túi ma túy đá với giá 3.000.000đ để dùng dần. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03-01-2020, khi T đang ở nhà thì nhận được cuộc điện thoại số 0978355698 của anh Nguyễn Văn H ở thôn VT, xã CV, huyện CG gọi đến hỏi mua 500.000đ ma túy đá. T đồng ý và hẹn giao ma túy cho anh H ở cổng trường THCS Cẩm Văn, thôn Văn Thai, xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, trên đường T đi giao ma túy đến khu vực cổng trụ sở UBND xã Cẩm Văn thì bị phát hiện; do sợ hãi nên T đã thả túi ma túy đang cầm trên tay trái xuống đường cạnh vị trí T đang đứng có sự chứng kiến của anh Nguyễn Tiến X ở thôn HL, xã CV, huyện CG. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Cẩm Giàng thu giữ 01 túi nilon màu trắng viền xanh kích thước 02 x 2,5cm bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Xiaomi 6X lắp 02 thẻ sim số 0347544915 và 0867498005.

Khám xét nơi ở của bị cáo, thu giữ 01 coóng thủy tinh bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng.

Kết luận giám định số 77/KLGĐ-PC09 ngày 06-01-2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận:

- Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng ghi thu của Phạm Văn T có khối lượng là 0,343g, là ma túy, loại Methamphetamine; hoàn lại 0,235g;

- Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng đục thu trong quá trình khám xét chỗ ở của Phạm Văn T có khối lượng là 0,093g, là ma túy, loại Methamphetamine; hoàn lại 0,049g.

Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 25-02-2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX: tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội Mua bán tr¸i phÐp chÊt ma tuý. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt!bị cáo Phạm Văn T!từ 25 đến 27 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị tạm giữ 03-01-2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu cho tiêu hủy: 0,235g Methamphetamine và 0,049g Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định, 01 coóng thủy tinh, 01 thẻ sim số 0867498005;

2

Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Xiaomi 6X lắp thẻ sim số 0347544915.

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đang trên đường mang ma túy đá đi bán thì bị bắt và khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo là đúng, không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định.

Lời nói sau cùng trong phiên tòa: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai người làm chứng, người chứng kiến tại cơ quan điều tra; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 17 giờ 15 phút ngày 03-01-2020; Kết luận giám định số 77/KLGĐ-PC09 ngày 06-01-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương; biên bản kiểm tra nội dung điện thoại và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17h00 ngày 03-01-2020, tại khu vực cổng trụ sở UBND xã CVăn, huyện CG, tỉnh HD, bị cáo Phạm Văn T đang cất giấu trong người 0,343g Methamphetamine mục đích để bán lại cho người khác thì bị bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng. Bị cáo T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét về hành vi; trọng lượng và chất ma túy mà bị cáo mang đi bán đã đủ yếu tố cấu thành Tội mua bán trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Phạm Văn T về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

3

Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an trên địa bàn xã Cẩm Văn. Chất ma túy có tính chất kích thích thần kinh, có tác hại rất lớn đến con người cũng như sự an toàn của xã hội; là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[3]!Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Tổng 0,284g Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 coóng thủy tinh là công cụ sử dụng ma túy đá; HĐXX tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 6X lắp sim số 0347544915, bị cáo dùng giao dịch mua bán ma túy, xác định là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu giá trị chiếc điện thoại và sim sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với sim số 0867498005 lắp sẵn trong máy không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng tại phiên tòa bị cáo từ chối nhận lại và đề nghị tiêu hủy, do vậy HĐXX tịch thu tiêu hủy.

[6] Về các vấn đề khác:

Người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo tại khu vực xã Đức Chính, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng đã xác minh nhưng không xác định được nên không có căn cứ xử lý.

Anh Nguyễn Văn H thừa nhận có gọi điện thoại sim số 0978355698 đến số 0347544915 của bị cáo để hỏi mua ma túy đá nhưng việc mua bán chưa hoàn thành nên không có căn cứ xử lý.

Đối với hành vi cất giấu 0,093g Methamphetamine để sử dụng tại nhà ở của bị cáo chưa đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 14-01-2020, Công an huyện Cẩm Giàng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.

4

[7] Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH

Căn!cứ!khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên!bố bị cáo Phạm Văn T phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 28 ( hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 03-01-2020.

Về!xử!lý!vật!chứng: tịch thu tiêu hủy 01 coóng thủy tinh; tổng 0,284g Methamphetamine được niêm trong 01 phong bì dán kín số 77/KLGĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương và 01 sim điện thoại số 0867498005.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước giá trị 01 chiếc điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Xiaomi 6X lắp sim số 0347544915.

(Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03-3-2020).

Về! án! phí: bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về!quyền!kháng!cáo: bị cáo T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ