vanban.org

Bản án 15/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 09/03/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn N 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 9 năm 2019. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn N phải nộp 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn N - Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
Toµ ¸n nh©n d©n
TØnh Nam §Þnh

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HS-PT
Ngày: 09 - 3 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Minh Hồng.

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết.

Ông Vũ Hà Nam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:

Bà Đinh Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 18/2020/TLPT-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo Vũ Văn N, Trần Đồng Qdo có kháng cáo của bị cáo Vũ Văn N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2019/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu.

- Bị cáo có kháng cáo: Vũ Văn N, sinh năm 1993; Giới tính: nam.

Nơi cư trú: xóm 4 xã N, huyện K, tỉnh H; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn) 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc Đ, sinh năm 1973, con bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1974; tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ từ ngày 03-9-2019 đến 12-9-2019 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Trần Đồng Q(tên gọi khác là Duy).

- Bị hại: Chị Vũ Lệ M, sinh ngày 14-5-2003.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Vũ Thị H, sinh năm: 1977 (là mẹ đẻ của bị hại). Địa chỉ: xóm 16, xã H, huyện H, tỉnh N.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Đồng Nhất, sinh năm: 1970; Nơi cư trú: xóm 8 xã N, huyện K, tỉnh H.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Thành Thi, sinh năm 1999. Địa chỉ: xóm 4 xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

2. Ông Vũ Ngọc Đức, sinh năm 1973. Địa chỉ: xóm 4 xã N, huyện K, tỉnh H.

3. Bà Bùi Thị Phương, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn Trịnh, xã Duy Minh, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

4. Ông Hoàng Minh Ngọc, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn 2 xã Chính Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

5. Anh Vũ Văn Trọng, sinh năm 1992. Địa chỉ: xóm 4 xã N, huyện K, tỉnh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do quen biết nhau từ trước, tối ngày 01-9-2019 Vũ Văn N rủ Trần Đồng Qxuống khu du lịch thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định chơi. Quyết đồng ý. Khoảng 02 giờ ngày 02-9-2019, Quyết điều khiển xe mô tô Exciter biển kiểm soát 90B-536.01 chở Nghĩa đến khu du lịch thị trấn Quất Lâm thuê phòng nghỉ và ăn uống. Khoảng 12 giờ 30’ cùng ngày, Quyết điều khiển xe mô tô chở Nghĩa theo đường quốc lộ 37 sang huyện Hải Hậu để về nhà. Khi đến khu vực xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định thì Nghĩa phát hiện thấy chị Vũ Lệ M ngồi phía sau trên chiếc xe mô tô nhãn hiệu honda Wave RSX do anh Nguyễn Thành Thi điều khiển đi cùng chiều phía trước. Trên tay chị Mỹ cầm 02 điện thoại di động đặt trên đùi, Nghĩa nói với Quyết “Điện thoại kia dễ lấy”, Quyết hiểu ý Nghĩa muốn chiếm đoạt 02 chiếc điện thoại của chị Mỹ, Quyết nói “Sợ lắm, đường này không chạy được” thì Nghĩa nói “Đường này đi được, cứ làm đi”. Quyết đồng ý và điều khiển xe bám theo xe anh Thi, chị Mỹ đến đoạn đường vắng thuộc xóm 5 xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, Nghĩa nói “lấy đi”, Quyết tăng ga vượt lên bên trái xe anh Thi, chị Mỹ. Khi xe Quyết đi ngang xe anh Thi, Nghĩa ngồi sau dùng tay phải giật lấy 02 chiếc điện thoại trên tay chị Mỹ, Quyết tăng ga xe bỏ chạy về tỉnh Hà Nam đi chơi. Đến 23 giờ cùng ngày, Nghĩa, Quyết đến nhà nghỉ Ruby ở thôn Trịnh xã Duy Minh, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam thuê phòng nghỉ.

Đến khoảng 11 giờ ngày 03-9-2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hải Hậu phối hợp với Công an xã Duy Minh, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam kiểm tra, ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Văn N, Trần Đồng Qvà thu giữ trong người Nghĩa 02 chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc nhãn hiệu Iphon 6 vỏ màu ghi xám và 01 chiếc nhãn hiệu Iphon 7 vỏ màu hồng. Ngoài ra còn thu giữ trong người Nghĩa 03 chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc nhãn hiệu Mobistar (của Quyết đưa cho Nghĩa giữ), 01 chiếc nhãn hiệu Viettel vỏ màu vàng đồng, 01 chiếc nhãn hiệu Iphon 6 Plus màu vàng đồng; thu giữ của Trần Đồng Q01 xe mô tô Exciter biển kiểm soát 90B-536.01.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐG ngày 25-9-2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Hải Hậu kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6 vỏ màu ghi xám, đã qua sử dụng có trị giá 2.500.000đồng và 01 chiếc nhãn hiệu Iphon 7 vỏ màu hồng, đã qua sử dụng có trị giá 5.000.000đồng; tổng trị giá là 7.500.000đồng.

* Với nội dung vụ án nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2019/HS-ST ngày 26-12-2019 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, đã quyết định:

1. Căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

1.1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn N, Trần Đồng Qphạm tội “Cướp giật tài sản”.

1.2. Xử phạt Vũ Văn N 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 03 tháng 9 năm 2019).

1.3. Xử phạt Trần Đồng Q03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 03 tháng 9 năm 2019).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.

* Ngày 02-01-2020, bị cáo Vũ Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

* Tại phiên toà:

- Bị cáo Vũ Văn N trình bày: Toà án cấp sơ thẩm đã xử bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo mắc nhiều bệnh và đang phải điều trị bệnh tiểu đường mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định kết luận về vụ án: Đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, 356 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về phần thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Văn N làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo trình bày: bị cáo mua 02 chiếc điện thoại của đôi nam nữ nhưng không hiểu sao họ lại nói là bị cáo đã cướp điện thoại của họ. Khi bị bắt bị cáo bị đánh đập và nghe cán bộ nói cứ nhận tội sẽ sớm được về nên bị cáo đã nhận tội. Tuy nhiên, bị cáo lại không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận bị cáo là người đã giật 02 chiếc điện thoại của chị Mỹ, bị cáo bị xét xử về tội “Cướp giật tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Xét thấy, tại các bản kiểm điểm, bản tự khai cũng như các lời khai của bị cáo Trần Đồng Qtại cơ quan điều tra là phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng, đều khai nhận: Trần Đồng Qlà người chở xe mô tô áp sát xe mô tô đi cùng chiều để Vũ Văn N ngồi sau giật 02 chiếc điện thoại di động của người con gái ngồi sau xe rồ tăng ga bỏ chạy.

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan điều tra thu thập; lời khai của các bị cáo; lời khai của bị hại và qua quá trình tranh tụng công khai tại phiên toà. Có đủ căn cứ xác định: Khoảng 13 giờ 00’ ngày 02-9-2019, Trần Đồng Qđiều khiển xe mô tô Exciter biển kiểm soát 90B2-536.01 chở Vũ Văn N ngồi sau chạy trên trục đường quốc lộ 21 theo hướng về thành phố Nam Định. Khi đến địa phận thuộc xóm 5 xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, Trần Đồng Qđiều khiển xe mô tô chạy áp sát xe mô tô đi cùng chiều phía trước để Vũ Văn N ngồi sau giật 02 điện thoại di động của chị Vũ Lệ M khi chị Mỹ đang ngồi phía sau xe mô tô nhãn hiệu honda Wave RSX do anh Nguyễn Thành Thi điều khiển đi cùng chiều phía trước rồi tăng ga bỏ chạy.

Hội đồng định giá kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6 vỏ màu ghi xám trị giá 2.500.000đồng và 01 chiếc nhãn hiệu Iphon 7 vỏ màu hồng trị giá 5.000.000đồng.

Do vậy, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Vũ Văn N và Trần Đồng Qvề tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo vẫn khai báo quanh co, chưa thực sự ăn năn hối hận về việc làm của mình. Do vậy, bị cáo cũng không được hưởng tình tiết giảm nhẹ là khai báo thành khẩn theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện vụ án, căn cứ các quy định của pháp luật, xét thấy cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Vũ Văn N 04 năm tù là hoàn toàn có cơ sở, tương đối phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở chấp nhận.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

2. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn N 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 9 năm 2019.

3. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn N phải nộp 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ