vanban.org

Bản án 15/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị V.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Phan Quốc Th. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Phương L, sinh ngày: 17/4/2011 cho bà Lê Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Lê Thị V không yêu cầu ông Nguyễn Phan Quốc Th cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị V khởi kiện Nguyễn Phan Quốc Th"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ N H
TỈNH K H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HNGĐ-ST.
Ngày: 20/5/2020.
V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N H, TỈNH K H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn H.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn L.

Bà Trần Thị H.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị B - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ng - Kiểm sát viên.

Ngày 20/5/2020 Tòa án nhân dân thị xã N H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 38/2020/HNGĐ ngày 04/02/2020 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2020/QĐST-HNGĐ ngày 04/5/2020 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị V - Sinh năm: 1987.

Nơi cư trú: Tổ dân phố H Th 1, phường N Đ, thị xã N H, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Phan Quốc Th - Sinh năm: 1986.

Nơi cư trú: Thôn Q Đ, xã N Đ, thị xã N H, tỉnh K H. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị V trình bày: Bà và ông Nguyễn Phan Quốc Th đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2010 tại Uỷ ban nhân dân xã N Đ, được Uỷ ban cấp giấy chứng nhận kết hôn số 72, cấp ngày 21/12/2010. Qúa trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn lý do ông Th chơi cờ bạc gây nợ nần, nhiều lần bà khuyên nhủ nhưng không từ bỏ nên vợ chồng cãi nhau, vợ chồng đã không sống chung từ năm 2019 đến nay. Bà không còn tình cảm với ông Th nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Phan Quốc Th.

- Về con chung: Bà và ông Th có 01 con chung Nguyễn Lê Phương L, sinh ngày: 17/4/2011. Con chung đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng nên bà yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà không yêu cầu giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Nguyễn Phan Quốc Th, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn ông Nguyễn Phan Quốc Th để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Th không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án không trực tiếp lấy được lời khai của ông Th và không tiến hành hòa giải được vụ án.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có yêu cầu kiến nghị gì. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Phan Quốc Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do nên coi như tự tướt mất quyền lợi của mình tại phiên tòa.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị V và cho bà Lê Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Phan Quốc Th.

+ Về con chung: Bà Lê Thị V và ông Nguyễn Phan Quốc Th có 01 con chung tên Nguyễn Lê Phương L, sinh ngày: 17/4/2011. Hiện nay cháu L đang do bà V trực tiếp nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu L cho bà V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà V không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không xem xét.

+ Về tài sản chung: Bà Lê Thị V không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét.

+ Về án phí: Bà Lê Thị V phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xác định đây là tranh chấp về quan hệ hôn nhân gia đình về ly hôn, con chung vì vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm.

Về thủ tục: Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông Nguyễn Phan Quốc Th vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Phan Quốc Th.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Về nội dung vụ án:

3.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị V và ông Nguyễn Phan Quốc Th tự nguyện kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã N Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 72, cấp ngày 21/12/2010. Qúa trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn lý do ông Th chơi cờ bạc gây nợ nần, nhiều lần bà khuyên nhủ nhưng không từ bỏ nên vợ chồng cãi nhau, vợ chồng đã không sống chung từ năm 2019 đến nay.

Xét thấy giữa bà V và ông Th đã không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn trong hôn nhân đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị V yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Phan Quốc Th là có căn cứ và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2. Về con chung: Bà Lê Thị V và ông Nguyễn Phan Quốc Th có 01 con chung tên Nguyễn Lê Phương L, sinh ngày: 17/4/2011. Hiện nay cháu L đang được bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy cháu L còn nhỏ cần được nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, toàn diện và ổn định để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho cháu vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L. Bà V không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Ông Nguyễn Phan Quốc Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con khi cần thiết cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

3.3. Về tài sản chung: Bà Lê Thị V không yêu cầu nên không xem xét.

3.4 Về án phí: Bà Lê Thị V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

3.5 Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị V.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Phan Quốc Th.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Phương L, sinh ngày: 17/4/2011 cho bà Lê Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Lê Thị V không yêu cầu ông Nguyễn Phan Quốc Th cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Phan Quốc Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con khi cần thiết cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà Lê Thị V không yêu cầu nên không xem xét.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Bà Lê Thị V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0009208 ngày 03/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà Lê Thị V đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ