- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án "xin ly hôn" giữa nguyên đơn bà Trương NgocN với bị đơn ong Quan Trung T"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trương Ngọc N và ông Quan Trung T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bán án số: 15/2020/HNGĐ-ST Ngày 20/02/2020 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Việt
Bà Lê Thị Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 20 tháng 02 năm 2020 tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 769/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Ngọc N, sinh năm 1979;
Địa chỉ: 68A4 đường Cao Thắng, phường Bình Kh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang – Có mặt
- Bị đơn: Ông Quan Trung T, sinh năm 1977;
Địa chỉ: 68A4 đường Cao Thắng, phường Bình K, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang – Vắng mặt. (ông T có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 13/12/2019)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/10/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Trương Ngọc N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T do quen biết nhau trước, cả hai đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình K, thành phố Long Xuyên vào ngày 25/5/2005, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng không khắc phục được và vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà N xin ly hôn với ông T.
Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Quan Hạo N, sinh ngày 18/4/2006. Hiện cháu N sống chung với bà N, khi ly hôn bà N xin được nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn Quan Trung T vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại bản tự khai ngày 13/12/2019, ông T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà N do mai mối đã tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình K, thành phố Long Xuyên vào ngày 25/5/2005, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và tính tình không phù hợp nên mâu thuẫn gia đình kéo dài và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay qua yêu cầu ly hôn của bà N thì ông T đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Quan Hạo N, sinh ngày 18/4/2006. Hiện cháu N sống chung với bà N, khi ly hôn ông đồng ý để bà N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và ông không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do hiện nay ông bận công việc làm ăn nên không thể có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án được nên ông có đơn xin Tòa án xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Trương Ngọc N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông T. Về con chung: Bà N xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Quan Hạo N, sinh ngày 18/4/2006 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn ông Quan Trung T có đơn xin xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp giữa bà N và ông T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Ông Quan Trung T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Bình K, thành phố Long Xuyên nên bà Nh khởi kiện xin ly hôn với ông T là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn ông Quan Trung T đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hơp lệ các văn bản tố tụng trong suốt quá trình Toa án giải quyết vụ án và ông T có đơn xin vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Quan Trung T.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Trương Ngọc N với ông Quang Trung T là hôn nhân tự nguyện, ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình K, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang ngày 25/5/2005 là phù hợp Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đây là hôn nhân hợp pháp nên được công nhận. Trong quá trình chung sống, bà N cho rằng vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường hay cự cãi, bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp nhau và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông T. Bị đơn ông Quan Trung T cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà N.
Sau khi xem xét ý kiến của của các bên, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng ông bà có những mâu thuẫn không thể hàn gắn được, thể hiện qua việc vợ chồng đã không còn sống chung từ năm 2017 cho đến nay và tại bản tự khai ngày 13/12/2019, ông T cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà N. Điều này thể hiện tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống của cả hai. Do đó, việc bà N xin ly hôn với ông T là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về con chung: Bà N và ông T có một con chung tên Quan Hạo N, sinh ngày 18/4/2006. Hiện cháu N đang sống với bà N, khi ly hôn bà N xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Yêu cầu này của bà N được ông T đồng ý thể hiện qua bản tự khai ngày 13/12/2019 và cháu Nn cũng có nguyện vọng được là được tiếp tục sống chung với bà N thể hiện bản ý kiến ngày 12/12/2019 của cháu N. Sự tự thỏa thuận này giữa các đương sự là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận. Bên cạnh được quyền nuôi con thì bà N cùng các thành viên gia đình bà N không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà N không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N và ông T trình bày là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xét đến.
Về án phí: Bà Trương Ngọc N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bà Trương Ngọc N và ông Quan Trung T được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 51; Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trương Ngọc N và ông Quan Trung T.
[2] Về con chung: Giao cháu Quan Hạo N, sinh ngày 18/4/2006 cho bà Trương Ngọc N trực tiếp nuôi dưỡng. Bà N cùng các thành viên gia đình của bà N không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà N không có yêu cầu.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chưa giải quyết.
[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án: Bà Trương Ngọc N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo biên lai thu số 0005888 ngày 11/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
[6] Về quyền kháng cáo: Bà Trương Ngọc N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ông Quan Trung T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - THA TPLX; - VKS TPLX; - TAND tỉnh An Giang; - UBND phường Bình Khánh; - Lưu hồ sơ + VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Phƣơng Quyền |