- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen thi Y - Nguyen Van S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2020/HNGĐ-ST Ngày 31-7-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Kim Dũng
Bà Phạm Thị Hằng
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Ngọc Tiến - Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 15/2020/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2020 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 380/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 451/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- NguYđơn: Chị Nguyễn Thị Yên, nơi cư trú: Tổ 12, phường Hưng Đạo, quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Sức, nơi cư trú: Tổ 12, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguYđơn là chị Nguyễn Thị Y trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh B. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh S có thời gian chơi bời cờ bạc làm ảnh hưởng tới kinh tế gia đình. Ngoài ra anh S còn có hành vi ghen tuông vô cớ, không tin tưởng chị trong quan hệ tình cảm. Hai vợ chồng đã hòa giải với nhau nhiều lần, gia đình hai bên cũng khuyên bảo nhưng anh S vẫn không thay đổi. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị và anh S đã sống ly thân từ tháng 2/2020 đến nay. Nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh S.
Về con chung: Chị và anh S có 02 con chung là Nguyễn Văn NK, sinh ngày 18-02-2013 và Nguyễn Nhật N, sinh ngày 19-10-2015. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi cả hai con, nếu anh S không đồng ý và có nguyện vọng nuôi con thì chị đề nghị được quyền nuôi cháu Nguyễn Văn Nam K, giao cháu Nguyễn Nhật N cho anh S nuôi dưỡng. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, hai vợ chồng tự thỏa thuận.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 29-4-2020, bị đơn là anh Nguyễn Văn S trình bày: Về thời gian kết hôn, các con chung như chị Y trình bày ở trên là đúng. Anh không đồng ý ly hôn vì hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, anh đã suy nghĩ rất nhiều và mong muốn vợ chồng hòa giải đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Nếu chị Y cứ cương quyết ly hôn thì anh chỉ đồng ý với điều kiện được nuôi cả hai con. Anh đề nghị tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Về con chung: Hiện tại hai con đang do cả anh và chị Y cùng nuôi dưỡng, chăm sóc. Về tài sản chung: Anh chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ về mâu thuẫn vợ chồng tại địa phương nơi chị Y và anh S sinh sống, qua lời trình bày của bố mẹ đẻ chị Y xác định: Hiện nay, chị Y và anh S đều cư trú tại phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, chị Y và anh S có xảy ra mâu thuẫn, hai vợ chồng cùng gia đình hai bên nội, ngoại đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Đến nay, chị Y và anh S vẫn sống ly thân. Con chung là Nguyễn Văn Nam K có đơn nguyện vọng ở với chị Y.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ, tiến hành tiếp cận chứng cứ và hòa giải nhưng anh Sđều vắng mặt nên không hòa giải được.
Tại phiên tòa, chị Y vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị ly hôn anh S. Về con chung, chị đề nghị nhận nuôi cháu Nguyễn Văn Nam K, giao cháu Nguyễn Nhật N cho anh S nuôi, vợ chồng tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho chị Y được ly hôn anh S. Về con chung: Chấp nhận đề nghị của chị Y, giao cho chị Y trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Văn Nam K, giao cháu Nguyễn Nhật N cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng, hai vợ chồng tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung vợ chồng, vợ chồng không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Chị Nguyễn Thị Y có đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Văn S cư trú tại phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, có đơn xin hoãn phiên tòa. Tòa án đã hoãn phiên tòa, ấn định thời gian mở lại phiên tòa lần thứ hai và niêm yết hợp lệ nhưng tại phiên tòa hôm nay anh S vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh S theo thủ tục chung.
- Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Văn S xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Quá trình xác minh thu thập chứng cứ tại nơi chị Y, anh S cư trú và qua lời khai của bố đẻ chị Y xác định: Trong quá trình chung sống, chị Y và anh S có xảy ra mâu thuẫn, gia đình cũng đã hòa giải cho chị Y và anh S nhiều lần nhưng đến nay vẫn không hòa giải được. Chị Y làm đơn ly hôn, anh S tuy không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có giải pháp gì để vợ chồng hòa giải và đoàn tụ. Tòa án đã tiến hành hòa giải hai lần nhưng anh S đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình: "1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác". Như vậy, có thể thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị Y về việc xin ly hôn anh S là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận.
- Về con chung:
Chị Y và anh S có 02 con chung là Nguyễn Văn Nam K, sinh ngày 18-02-2013 và Nguyễn Nhật N, sinh ngày 19-10-2015, đang do cả chị Y và anh S cùng nuôi dưỡng, chăm sóc. Hội đồng xét xử thấy, chị Y là bác sỹ có công việc và thu nhập ổn định, anh S cũng có công việc và thu nhập đảm bảo để nuôi con. Cháu Nguyễn Văn Nam K có nguyện vọng ở với chị Y và đang học ổn định tại trường tiểu học V. Yêu cầu của chị Y về việc giao con chung là Nguyễn Văn Nam K cho chị nuôi, giao cháu Nguyễn Nhật N cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp và nguyện vọng của con, phù hợp quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu nên không phải xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung:
Chị Y và anh S không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị Y là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, các điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các điều 28, điều 35, điều 39, điều 147, điều 207, điều 227, điều 228 và điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Nam K, sinh ngày 18-02-2013, giao cho anh Nguyễn Văn S trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Nhật N, sinh ngày 19-10-2015 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Hai vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn.
3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Y phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí tòa án đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số AA/2014/0014333 ngày 25 tháng 2 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng. Chị Y đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Y có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn S vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
5. Quyền yêu cầu thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự (để thi hành); - VKSND quận D; - VKSNDTP Hải Phòng; - TANDTP Hải Phòng; - Chi cục THADS quận D; - UBND xã B (ĐKKH số 56/2012); - Lưu: Văn thư, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thắng |