- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con D - N"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2020/HNGĐ-ST Ngày: 24-02-2020 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Đạt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Hƣờng
2. Ông Phạm Ngọc Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Lƣu Thị Kim Thuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 404/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04-01-2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2020/QĐST-HNGĐ ngày 31-01-2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim D, sinh năm 199 (có mặt)
Trú tại: Thôn 1, xã A, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Bị đơn: Ông Lƣơng Văn N, sinh năm 199 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn 1, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08-10-2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Kim D trình bày:
Bà Lê Thị Kim D với ông Lương Văn N tự nguyện tìm hiểu nhau và kết hôn vào 2015, đến năm 2018 bà Lê Thị Kim D và ông Lương Văn N đến Ủy ban nhân dân xã A làm thủ tục đăng ký kết hôn.
Qúa trình chung sống chúng bà Lê Thị Kim D thường xuyên xảy ra cãi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông N thường xuyên uống rượu, bia say xỉn, cờ bạc, không chăm lo cho gia đình, ông N đi làm thì hay thiếu nợ người khác, bà Lê Thị Kim D phải thay ông N trả nợ cho nhiều người rất nhiều lần. Bà Lê Thị Kim D có khuyên nhủ ông N nhiều lần nhưng ông N không biết sửa sai, đến tháng 9-2018 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng nên bà Lê Thị Kim D và ông Lương Văn N sống ly thân, bà D bỏ ông N về sống cùng cha mẹ ruột cho đến ngày hôm nay, không ai quan tâm đến nhau.
Nay bà Lê Thị Kim D không còn tình cảm yêu thương ông Lương Văn N nữa, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Lê Thị Kim D ly hôn ông Lương Văn N.
Về con chung: Bà Lê Thị Kim D và ông Lương Văn N có 01 con chung tên Lương Gia T, sinh ngày 04-9-201. Hiện con chung đang sống với bà Lê Thị Kim D, nếu ly hôn bà Lê Thị Kim D yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông Lương Văn N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Bị đơn ông Lương Văn N vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng.
- Tại phiên tòa bà Lê Thị Kim D vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tại phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Đối với bị đơn, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng Bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đã phân tích đánh giá tài liệu, chứng cứ, thực trạng hôn nhân của bà Lê Thị Kim D và ông Lương Văn N đề nghị: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim D được ly hôn ông Lương Văn N.
Về con chung: Giao 01 con chung tên Lương Gia T, sinh ngày 04-9-201 cho bà Lê Thị Kim D trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lương Văn N không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Lê Thị Kim D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Lương Văn N, vì vậy Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn ông Lương Văn N cư trú tại thôn 1, xã A, huyện N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015.
- Về sự vắng mặt của bị đơn ông Lương Văn N: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn ông Lương Văn N vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lê Thị Kim D và ông Lương Văn N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 64/2018, ngày 22-5-2018; Hội đồng xét xử xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị Kim D vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn ông Lương Văn N, vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gay gắt, trầm trọng, xa cách thời gian dài, không còn khả năng đoàn tụ.
Xét thấy: Nguyên nhân dẫn đến ly hôn do thường xuyên uống rượu, bia say xỉn, cờ bạc, không chăm lo cho gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vã gay gắt, chửi mắng, xúc phạm nhau, ông Lương Văn N không quan tâm đến bà Lê Thị Kim D, vợ chồng không còn chung sống từ tháng 9-2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai, bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống, không còn khả năng đoàn tụ.
Tòa án xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: Vợ chồng bà Lê Thị Kim D và ông Lương Văn N, không còn chung sống với nhau từ tháng 9-2018 đến nay, không còn khả năng đoàn tụ.
- Đối với bị đơn ông Lương Văn N dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, các văn bản tố tụng, niêm yết công khai nhiều lần theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn cố tình không đến. Bị đơn ông Lương Văn N vắng mặt xem như từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chứng tỏ yêu cầu khởi kiện ly hôn và lời khai của bà Lê Thị Kim D là có căn cứ.
Từ những chứng cứ nên trên, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng bà Lê Thị Kim D và ông Lương Văn N đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Kim D là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà Lê Thị Kim D với ông Lương Văn N có 01 con chung tên Lương Gia T, sinh ngày 04-9-201. Hiện con chung đang sống với bà Lê Thị Kim D, ly hôn bà Lê Thị Kim D yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông Lương Văn N cấp dưỡng nuôi con.
Xét về yêu cầu trực tiếp nuôi con của bà Lê Thị Kim D, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Lê Thị Kim D là người trực tiếp chăm sóc con chung từ nhỏ đến nay, cháu Lương Gia T mới chỉ hơn 02 tuổi, cần sự chăm sóc của người mẹ, nên bà Lê Thị Kim D có điều kiện tốt hơn để nuôi dưỡng con chung; Vì vậy nên giao 01 con chung Lương Gia T, sinh ngày 04-9-201 cho bà Lê Thị Kim D được trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lương Văn N không cấp dưỡng nuôi con chung do bà D không yêu cầu, là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị Kim D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện N tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Kim D. Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Kim D và ông Lương Văn N.
2. Về con chung:
Giao 01 con chung tên Lương Gia T, sinh ngày 04-9-201 cho bà Lê Thị Kim D được trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lương Văn N không cấp dưỡng nuôi con chung do bà D không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí:
Bà Lê Thị Kim D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0020978, ngày 08-10-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bà Lê Thị Kim D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn không có mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện N; - UBND xã A; - Chi cục THADS huyện N; - TAND tỉnh; - Lưu: Hồ sơ, án văn. Các Hội thẩm nhân dân Lê Thị Hƣờng Phạm Ngọc Minh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Quốc Đạt Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Đạt |