vanban.org

Bản án 15/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị G về việc “Ly hôn” đối với bị đơn anh Nguyễn Tấn Tr.

Xử: Cho chị Nguyễn Thị G được ly hôn anh Nguyễn Tấn Tr. Về con chung: Xử giao cháu Nguyễn Thuyên K, sinh ngày 19/12/2011 cho chị G nuôi dưỡng. Tạm thời anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị G- Nguyễn Tấn Tr"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị G về việc “Ly hôn” đối với bị đơn anh Nguyễn Tấn Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 25-5-2020
V/v tranh chấp:“Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Hùng

Bà Trần Thanh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Đình Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 839/2019/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 294/2020/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Ấp G, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn Tr, sinh năm 1988.

HKTT: 29/8, đường 3, Quận 2, thành phố H.

Địa chỉ tạm trú: Tổ 20, khu C, ấp L, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị G trình bày:

Chị và anh Nguyễn Tấn Tr chung sống vào năm 2010, trên cơ sở thương yêu nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, Quận 2, thành phố H (được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 44/2010, quyển số 01/2010 ngày 15/10/2010).

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Tr không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình nên vợ chồng bất hòa, gây gổ. Chị khuyên can nhiều lần nhưng anh Tr không sửa đổi nên từ khoảng tháng 12/2018, anh chị sống ly thân nhau đến nay không hòa giải đoàn tụ lần nào. Nay chị cương quyết xin ly hôn với anh Tr.

- Con chung: chị và anh Tr chỉ có 01 con chung là cháu Nguyễn Thuyên K, sinh ngày 19/12/2011. Nếu ly hôn chị xin nuôi con, không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng.

- Tài sản chung: không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận đi làm nên chị xin vắng mặt khi xét xử vụ án.

* Bị đơn anh Nguyễn Tấn Tr đã được tống đạt hợp lệ nhưng không đến Tòa án cung cấp chứng cứ nên không có bản khai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục Tòa án thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, xác minh thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, việc tuân theo pháp luật của đương sự và của hội đồng xét xử đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Tấn Tr chung sống vào năm 2010, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, Quận 2, thành phố H. Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Thuyên K, sinh ngày 19/12/2011. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Tr không có trách nhiệm với gia đình nên vợ chồng bất hòa, gây gổ, từ tháng 12/2018 chị G và anh Tr sống ly thân. Nay chị G xin ly hôn anh Tr, xin nuôi con chung. Xét yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 9,11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; các điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị G.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị G có yêu cầu vắng mặt, anh Nguyễn Tấn Tr đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án theo quy định.

.Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự: Chị Nguyễn Thị G yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Tấn Tr. Hiện nay anh Tr cư trú tại tổ 20, khu C, ấp L, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện N có thẩm quyền giải quyết vụ án. Quan hệ pháp luật được xác định “Tranh chấp ly hôn”.Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định nguyên đơn là chị Nguyễn Thị G, bị đơn là anh Nguyễn Tấn Tr.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Tấn Tr tự nguyện chung sống vào năm 2010, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, Quận 2, thành phố H cấp giấy chứng nhận kết hôn số 44/2010, quyển số 01/2010 ngày 15/10/2010. Căn cứ Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) hôn nhân trên được xem là hợp pháp. Nay chị G xin ly hôn anh Tr vì không còn tình cảm vợ chồng.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn thì thấy: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn theo chị G khai là do anh Tr không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình nên vợ chồng bất hòa, gây gổ. Chị G khuyên can nhiều lần nhưng anh Tr không sửa đổi, từ tháng 12/2018 anh chị sống ly thân đến nay. Trong thời gian sống ly thân chị G và anh Tr không gặp mặt hòa giải đoàn tụ, kể cả quá trình giải quyết vụ án, anh Tr cũng không tham gia.Từ đó thể hiện anh Tr không mong muốn hòa giải đoàn tụ với chị G. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị G và anh Tr đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho chị G được ly hôn anh Tr là phù hợp pháp luật.

. Về con chung: Chị G khai có 01 con chung là cháu Nguyễn Thuyên K, sinh ngày 19/12/2011. Ly hôn, chị G xin nuôi con chung, không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Kim có nguyện vọng được sống cùng mẹ, trong quá trình giải quyết vụ án anh Tr cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con. Vì vậy cần giao cháu Kim cho chị G nuôi dưỡng, tạm thời anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp pháp luật.

. Tài sản chung: Chị G khai không có nên không xét.

. Nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.

. Về án phí: Chị G phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 220, 227, 228, 264, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, các điều 56, 58, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị G về việc “Ly hôn” đối với bị đơn anh Nguyễn Tấn Tr.

1. Xử: Cho chị Nguyễn Thị G được ly hôn anh Nguyễn Tấn Tr.

2.Về con chung: Xử giao cháu Nguyễn Thuyên K, sinh ngày 19/12/2011 cho chị G nuôi dưỡng. Tạm thời anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0009875 ngày 17/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Đồng Nai. Chị G đã nộp đủ án phí.

Chị Nguyễn Thị G, anh Nguyễn Tấn Tr được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ