- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ Phạm Thị L -BĐ Trần Lê Nguyên Kh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự đưa
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số:15 /2020/HNGĐ-ST Ngày 15 - 9 - 2020 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Hoàng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Hiển và ông Nguyễn Quang Châu.
- Thƣ ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Bun – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên tòa: Ông Nông Quốc Hùng, chức vụ: Kiểm sát viên.
Mở phiên tòa ngày 15 tháng 9 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Krông Nô tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 82/2020/TLST-HNGĐ, ngày 25/5/2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10/8/2020; Quyết định Hoãn phiên tòa số: 28/2020/QĐHPTT-HNGĐ, ngày 28/8/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L - sinh năm 1995 - Có mặt.
Bị đơn: Anh Trần Lê Nguyên Kh, sinh năm 1991 - Vắng mặt lần 2 không lý do.
Cùng địa chỉ: Thôn Xuyên T, xã Đức X, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/3/2020 (nộp trực tiếp tại Tòa án ngày 20/5/2020) quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Phạm Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L anh Trần Lê Nguyên Kh kết hôn với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cư Bao, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 23/02/2016. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung, không có sự yêu thương, tôn trọng, chia sẻ với nhau. Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và biết chị L có ý định ly hôn anh chị đã không tìm cách hàn gắn, tháo gỡ, anh Kh nói không muốn ly hôn nhưng lại bỏ đi không có thiện chí hàn gắn tình cảm. Đến nay tình cảm yêu thương dành cho nhau không còn, chị L giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Kh.
Về yêu cầu nuôi con chung: Chị L có nguyện vọng trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Phạm Bảo H, sinh ngày 08/5/2017 đến tuổi trưởng thành, chị L không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con.
Về yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung: chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án anh Trần Lê Nguyên Kh vắng mặt tại địa phương. Ngày 30/6/2020, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô đã ban hành Quyết định số 07/2020/QĐ-TA về việc đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cho anh Kh biết về nội dung khởi kiện của chị L. Tại phiên tòa, anh Kh vẫn vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa; tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự thủ tục quy định; Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70; Điều 72; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Trần Lê Nguyên Kh.
Về yêu cầu nuôi con chung: Giao con chung Trần Phạm Bảo H, sinh ngày 08/5/2017 cho chị Phạm Thị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Về yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Phạm Thị L chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung nên quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn là anh Trần Lê Nguyên Kh có nơi cư trú tại thôn Xuyên T, xã Đức X, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Krông Nô theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho anh Kh theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn anh Kh vắng mặt nên tại phiên tòa ngày 29/7/2020 Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quyết định hoãn phiên toà có thông báo thời gian mở lại phiên toà đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai. Việc bị đơn không chấp hành pháp luật được coi tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại Điều 6, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Kh theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về tố tụng: Tại biên bản xác minh ngày 04/6/2020, tại thôn Xuyên T, xã Đức X thể hiện: anh Kh đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Xuyên T, xã Đức X, huyện Krông Nô. Cách thời điểm xác minh khoảng 01 tháng anh Kh đã vắng mặt tại địa phương, anh Kh không thay đổi nơi cư trú, không khai báo tạm vắng nên chính quyền địa phương không biết anh Kh đang sinh sống và làm việc ở đâu. Ngày 30/6/2020, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô đã ban hành Quyết định số 07/2020/QĐ-TA về việc đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cho anh Kh biết về nội dung khởi kiện của chị L. Tại phiên tòa, anh Kh vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Kh.
Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L và anh Trần Lê Nguyên Kh kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cư Bao, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 23/02/2016. Đây là hôn nhân hợp pháp, kết hôn đúng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Chị L trình bày sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung, không có sự yêu thương, tôn trọng, chia sẻ với nhau. Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và biết chị L có ý định ly hôn anh chị đã không tìm cách hàn gắn, tháo gỡ, anh Kh nói không muốn ly hôn nhưng lại bỏ đi không có thiện chí hàn gắn tình cảm. Trong thời gian Tòa án đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng anh Kh có về nhà, anh chị cũng nhiều lần nói chuyện qua điện thoại nhưng vẫn không hàn gắn được với nhau. Tại biên bản xác minh ngày 04/6/2020 tại thôn Xuyên T, xã Đức X, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông thì địa phương không nhận được yêu cầu bảo vệ cũng như giải quyết mâu thuẫn nào từ phía chị chị L và anh Kh. Từ tháng 5 năm 2020, anh Kh đã bỏ đi, anh chị không còn chung sống với nhau.
Hội đồng xét xử xét thấy, vợ chồng chung sống có hạnh phúc phải dựa trên sự yêu thương, tôn trọng, phải chung sống với nhau để cùng nhau quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, phải có sự hòa hợp, chia sẻ với nhau mọi vấn đề trong cuộc sống, việc anh Kh và chị L bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không quan tâm, chăm sóc, chia sẻ với nhau, anh chị lại không chung sống với nhau, không tìm cách hàn gắn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân trầm trọng, làm cho mục đích hôn nhân không đạt được, chị L cương quyết ly hôn, anh Kh không đến Tòa án làm việc không thể hiện được ý chí, nguyện vọng của bản thân muốn hay không muốn đoàn tụ vì vậy cần căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị L.
. Về yêu cầu con chung: Chị L và anh Kh có 01 con chung Trần Phạm Bảo H, sinh ngày 08/5/2017.
Khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”
Hội đồng xét xử xét thấy chị L có nguyện vọng trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành. Anh Kh bỏ nhà đi, không quan tâm, chăm sóc tới gia đình và con cái, cháu Trần Phạm Bảo H còn nhỏ, cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của mẹ, vì vậy việc giao con chung cho chị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là cần thiết và bảo đảm cho quyền lợi của cháu.
Vì vậy cần giao con chung Trần Phạm Bảo H, sinh ngày 08/5/2017 cho chị Phạm Thị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị L không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn anh Trần Lê Nguyên Kh và chị Phạm Thị L có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung theo quy định tại các Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngày 30/6/2020, chị Phạm Thị L có đơn đề nghị thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về nội dung khởi kiện của chị đối với anh Trần Lê Nguyên Kh. Vì vậy chị L phải chịu lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng với số tiền 3.525.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 3.525.000 đồng mà chị L đã nộp ngày 01/7/2020 tại Tòa án nhân dân huyện Krông Nô; Phiếu thu ngày 01/7/2020 tại Cư quan thường trú Đài tiếng nói Việt Nam khu vực Tây Nguyên; Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 15/7/2020 của Công ty cổ phần thông tin truyền thông Công lý.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 180, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L.
a. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Trần Lê Nguyên Kh.
b. Về yêu cầu nuôi con chung: Giao con chung Trần Phạm Bảo H, sinh ngày 08/5/2017 cho chị Phạm Thị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị Phạm Thị L không yêu cầu anh Trần Lê Nguyên Kh cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Sau khi ly hôn anh Trần Lê Nguyên Kh và chị Phạm Thị L có các quyền, nghĩa vụ sau:
- Quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chưa thành niên theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.
- Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân gia đình.
- Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
- Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
- Quyền yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình.
c. Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: chị Phạm Thị L phải chịu lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng với số tiền 3.525.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 3.525.000 đồng mà chị L đã nộp ngày 01/7/2020 tại Tòa án nhân dân huyện Krông Nô; Phiếu thu ngày 01/7/2020 tại Cư quan thường trú Đài tiếng nói Việt Nam khu vực Tây Nguyên; Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 15/7/2020 của Công ty cổ phần thông tin truyền thông Công lý.
3.Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị Phạm Thị L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông theo biên lai số 0002988/BL-THA, ngày 20/5/2020.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Krông Nô (02 bản); - Chi cục THADS H. Krông Nô; - UBND xã Cư Bao, TX Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Xuân Hoàng |