- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị L T H được ly hôn anh L X T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự xử; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự xử; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xử
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 15/2020/HNGĐ-ST Ngày 04 - 8 - 2020 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Quốc Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Cao Việt Thương;
2. Bà Nguyễn Thị Nhung;
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Hương, cán bộ Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Thăng - kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 49/2020/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2020/QĐST - HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị L T H; Sinh năm 1994; Nơi ở hiện nay: K 3, TT H N, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An; Có mặt.
- Bị đơn: Anh L X T; Sinh năm 1984; Nơi ở hiện nay: K 3, TT H N, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ngày 04 tháng 5 năm 2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị L T H trình bày:
Chị L T H và anh L X T đăng ký kết hôn ngày 23 tháng 11 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng có thời gian chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T sa vào tệ nạn xã hội, không chịu làm ăn chân chính, thường xuyên đánh bạc, làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế gia đình, vợ chồng vì thế mà xảy ra xô xát, cãi vã. Bản thân chị H nhiều lần tha thứ để anh T quay lại làm ăn chân chính, nuôi con nhưng thời gian trôi qua anh L X T vẫn không thay đổi. không có trách nhiệm với gia đình, Chị L T H một mình nuôi con. Nay thấy tình cảm không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị L T H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L X T để giải phóng cho nhau.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung có tên là L D A; sinh ngày 12 tháng 01 năm 2019. Nay ly hôn nguyện vọng của chị L T H là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh L X T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và các khoản nợ: Chị L T H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh L X T: Tòa án đã triệu tập hợp lệ 2 lần, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú và trụ sở UBND thị trấn Hưng Nguyên nơi anh L X T cư trú nhưng anh L X T không hợp tác và không có yêu cầu phản tố.
Kết quả xác minh với chính quyền địa phương UBND thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An cho thấy: Vợ chồng chị H và anh T sau khi kết hôn sinh sống tại địa phương, về nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng địa phương không nắm rõ.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên Tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đối với bị đơn, Tòa án đã tiến hành tống đạt, các văn bản tố tụng theo Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do các bên không hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng theo quy định.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 179, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự: Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn, cho chị L T H được ly hôn anh L X T. Giao con chung cho chị L T H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, và giáo dục đến khi con chung T niên, đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn. Buộc Nguyên đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên Toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn là anh L X T có hộ khẩu thường trú tại khối 7 (Nay là khối 3), thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản nhiều lần cho bị đơn là anh L X T nhưng anh T vẫn không không hợp tác và không có yêu cầu phản tố. Vì vậy, việc xét xử vắng mặt anh L X T là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị L T H và anh L X T có đăng ký kết hôn ngày 23 tháng 11 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An và không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8 luật Hôn nhân và gia đình. Đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Qua lời khai của chị H và qua kết quả xác minh tại địa phương, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn của chị L T H và anh L X T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị L T H được ly hôn anh L X T như đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay.
. Về con chung: Nguyên đơn, chị L T H mong muốn được tiếp tục trực tiếp nuôi con.
Xét: Mong muốn được trực tiếp nuôi con của chị H là chính đáng. Chị H có công ăn việc làm, có chỗ ở và có thu nhập. Từ trước đến nay cháu L D A vẫn ở cùng với chị. Hơn nữa cháu Diệu Anh hiện tại mới hơn 18 tháng tuổi. Vì vậy, Chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi con của chị H là phù hợp với Điều 81 luật Hôn nhân và gia đình.
Nguyên đơn chị L T H không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, cần tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L X T.
. Tài sản và các khoản nợ: Chị L T H không yêu cầu nên Tòa không xem xét.
.Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Nguyên đơn chị L T H phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị L T H được ly hôn anh L X T.
Về con chung: Giao con chung tên là L D A; sinh ngày 12 tháng 01 năm 2019 cho chị L T H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng T, đủ 18 tuổi; Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L X T.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trong trường hợp anh L X T lạm dụng việc thăm nom con để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì chị L T H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của anh T.
Trong trường hợp chị L T H không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con thì anh L X T có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và phải tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên.
Về án phí: Buộc chị L T H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí Dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ đi số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại cơ quan Thi hành án Dân sự huyện Hưng Nguyên theo biên lai thu tiền số AA/2019/0002342 ngày 06 tháng 5 năm 2020.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thới hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Hưng Nguyên; - THA DS huyện Hưng Nguyên - Đương sự; - Nơi đăng ký kết hôn; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Quốc Tú |