vanban.org

Bản án 15/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn

nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Ngọc Đ - Đặng Văn P"
  • Tòa quyết gì? Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 06-7-2020
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Phú.

2. Bà Phạm Thị Châu Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân

huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Ngày 06 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 275/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12

năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

03/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trang Ngọc D - Sinh năm 1977 - Địa chỉ: ấp A, xã B,

huyện C, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Đặng Văn P - Sinh năm 1967 - Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C,

tỉnh Long An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2019, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà

Trang Ngọc D trình bày: Bà và ông Đặng Văn P xác lập quan hệ vợ chồng và có

đăng ký kết hôn ngày 22/8/2003 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Long An.

Sống chung hạnh phúc đến tháng 01/2016 thì xảy ra mâu thuẩn, nguyên nhân do

ông P đánh đập, ngược đãi bà, đuổi bà ra khỏi nhà. Ly thân từ tháng 9/2019 cho

đến nay.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Đặng Văn P.

Về nuôi con chung: Có 03 con chung tên Đặng Văn K, sinh ngày

19/11/1997; Đặng Văn H, sinh ngày 15/01/2000 và Đặng Ngọc N, sinh ngày 30/12/2011. Khi ly hôn con chung Đặng Văn K và Đặng Văn H đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Đặng Ngọc N (hiện đang sống với bà), không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn bà D có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông P vắng mặt tại các

phiên hòa giải và tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Trang Ngọc D khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Đặng Văn P, Tòa án

nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ông P được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng ông P

không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà D theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Ông P không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa vì ông đã không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông theo quy định pháp luật.

Bà Trang Ngọc D và ông Đặng Văn P chung sống có đăng ký kết hôn

ngày 22/8/2003 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông P là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà D, Hội đồng xét xử nhận định: Bà D cho rằng

vợ chồng xảy ra mâu thuẩn nguyên nhân do ông P đánh đập, ngược đãi bà. Ông P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên không có căn cứ xem xét; qua lời trình bày của bà D, Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẩn giữa bà D và ông P đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà đã sống ly thân, tự mỗi người lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do đó, việc bà D yêu cầu ly hôn với ông P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Hai con chung tên Đặng Văn K và Đặng Văn H đã

thành niên không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Đặng Ngọc N, sinh ngày 30/12/2011. Xét từ khi bà D và

ông P sống ly thân con chung do bà D nuôi dưỡng, con chung có nguyện vọng sống

chung với bà D, nhằm tránh sự thay đổi về tâm lý con chung nên giao con chung

cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia

đình năm 2014.

Xét việc bà D không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung là tự

nguyện, phù hợp quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

Về chia tài sản chung và nợ chung: bà D trình bày không có, không yêu

cầu nên không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp tách ra giải quyết bằng

vụ án khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội, xét thấy:

Bà D là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền

án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ

thẩm đã nộp. Bà D đã nộp đủ án phí.

Ông P không phải chịu tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật

Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn

nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Bà Trang Ngọc D được ly hôn với ông Đặng Văn P.

2. Về nuôi con chung:

Hai con chung tên Đặng Văn K, sinh ngày 19/11/1997 và Đặng Văn H, sinh

ngày 15/01/2000 đã thành niên không đề cập giải quyết.

Bà Trang Ngọc D được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Đặng Ngọc N,

sinh ngày 30/12/2011, hiện đang sống với bà D (theo nguyện vọng của con chung).

Ông Đặng Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông P được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, khi cần thiết vì lợi ích

con chung, bà D và ông P có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và yêu cầu

thay đổi khoản cấp dưỡng nuôi con theo luật hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trang Ngọc D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, khấu trừ

300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0004769 ngày 06/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà D đã nộp đủ án phí.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ

tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ