vanban.org

Bản án 15/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Hồng T. Cho chị Trần Hồng T được ly hôn anh Lê Minh T. 2/ Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 06/02/2020
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông NGUYỄN TRUNG TÍNH

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà ĐOÀN THỊ THOA

2. Ông LÊ VĂN THÀNH

- Thư ký phiên Tòa: Ông NGUYỄN CHIẾN CÔNG – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 06 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 783/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2019 về việc tranh chấp “xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17/01/2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị TRẦN HỒNG T, sinh năm 1985

Địa chỉ: ấp TN, xã TH, huyện TT, tỉnh LA

*Bị đơn: Anh LÊ MINH T, sinh năm 1984

Địa chỉ: ấp HQ, xã HMBB, huyện CB, tỉnh TG.

(chị T có mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai tại Toà, nguyên đơn chị Trần Hồng T trình bày:

Chị và anh T xác lập quan hệ vợ chồng năm 2005, có đăng ký kết hôn, sau khi cưới về sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị là do anh T không lo làm ăn, anh thường xuyên nhậu nhẹt say sỉn về nhà chửi mắn và có đánh đập chị, anh T không quan tâm cuộc sống vợ chồng, vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng không thành nên đã ly thân nhau từ tháng 09/2019 đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T, chị xin ly hôn anh T.

+ Về con chung : Anh chị có 02 con chung tên Lê Minh D, sinh ngày 03/11/2006 và Lê Ngọc Trường V, sinh ngày 12/9/2015, khi ly hôn chị yêu cầu nuôi 02 con chung, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Lê Minh T trình bày:

Anh và chị T xác lập quan hệ hôn nhân năm 2005, có đăng ký kết hôn, sau khi cưới về sống hạnh phúc đến tháng 11/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo anh là do vợ chồng cự cãi mâu thuẫn chuyện gia đình, anh có nhậu nhẹt với bạn bè, vợ anh không đồng ý nên vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau. Vợ chồng ly thân từ tháng 9/2019 đến nay. Anh chị có 02 con chung theo lời vợ anh trình bày là đúng. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay anh còn thương vợ nên anh không đồng ý ly hôn, nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh cũng yêu cầu nuôi hai con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng.

Tại phiên tòa chị T vẫn giữ ý kiến và yêu cầu như trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Anh Lê Minh T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vắng mặt không lý do, căn cứ điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh T là phù hợp theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân : Chị Trần Hồng T và anh Lê Minh T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2005, có đăng ký kết hôn. Theo lời chị T khai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị là do anh T không lo làm ăn, anh thường xuyên nhậu nhẹt say sỉn về nhà chửi mắn và có đánh đập chị, anh T không quan tâm cuộc sống vợ chồng, vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng không thành nên đã ly thân nhau từ tháng 09/2019 đến nay, nay chị xin ly hôn anh T. Còn anh T vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên theo tờ tự khai của anh và ý kiến của anh tại biên bản hòa giải do Tòa án lập, anh xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng xảy ra cự cãi chuyện gia đình, anh có nhậu nhẹt với bạn bè, vợ anh không đồng ý nên vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, anh còn tình cảm và còn thương vợ con nên anh không đồng ý ly hôn.

Xét thấy chị T và anh T đã phát sinh mâu thuẫn kéo dài từ năm 2018 cho đến nay, phía anh T mong muốn hàn gắn đoàn tụ nhưng anh không đưa ra được giải pháp nào để khắc phục, hàn gắn tình cảm vợ chồng, mặc khác Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh 02 lần tham dự phiên tòa nhưng anh vắng mặt không lý do, qua đó cho thấy anh không còn quan tâm cuộc sống vợ chồng giữa anh và chị T, phía chị T xác định không còn tình cảm và không thể chung sống với anh T. Nhận thấy tình cảm của anh chị đã tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ lại với nhau. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ cũng phù hợp theo đơn xin xác nhận của chị có xác nhận của ban quản lý ấp TN, xã TH, huyện TT, tỉnh LA ngày 07/01/2020 về tình trạng quan hệ hôn nhân giữa chị và anh T nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị được ly hôn anh T là phù hợp theo điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Lê Minh D, sinh ngày 03/11/2006 và Lê Ngọc Trường V, sinh ngày 12/9/2015. Tại phiên tòa chị T yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, phía anh T vắng mặt tại Tòa, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, anh có ý kiến cũng có nguyện vọng nuôi 02 con chung nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn, qua tham khảo ý kiến của cháu Lê Minh D cũng có mong muốn sống chung với chị T. Xét thấy từ khi ly thân hai con chung do chị T nuôi dưỡng đã ổn định, hai cháu vẫn phát triển tốt bình thường cũng phù hợp theo đơn xin xác nhận do chị T cung cấp có xác nhận của ban quản lý ấp TN, xã TH, huyện TT, tỉnh LA ngày 07/01/2020 về hiện trạng nuôi 02 con chung của chị T, mặc khác qua tham khảo ý kiến của cháu D cũng có mong muốn sống với chị T, do vậy hội đồng xét xử xét thấy để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý của 02 con chung và ổn định cuộc sống của hai cháu nên tiếp tục giao 02 con chung cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp theo điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy không chấp nhận yêu cầu nuôi 02 con chung của anh T.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T xác định đủ khả năng nuôi 02 con chung, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi 02 con chung nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Hồng T.

Cho chị Trần Hồng T được ly hôn anh Lê Minh T. 2/ Về con chung:

- Không chấp nhận yêu cầu của anh Lê Minh T về việc yêu cầu nuôi 02 con chung cháu Lê Minh D, sinh ngày 03/11/2006 và Lê Ngọc Trường V, sinh ngày 12/9/2015.

- Tiếp tục giao 02 con chung cháu Lê Minh D, sinh ngày 03/11/2006 và Lê Ngọc Trường V, sinh ngày 12/9/2015 cho chị T nuôi dưỡng.

Anh Lê Minh T không phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

Anh Lê Minh T được quyền thăm nom 02 con chung theo quy định của pháp luật.

3/ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. 4/ Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. 5/ Về án phí:

Chị Trần Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0002683 ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CB nên xem như thi hành xong.

Về quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ khi Tòa án tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh TG xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ