- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng N Việt Nam - Nguyễn Thị P+ Nguyễn Ngọc Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N Việt Nam (còn gọi là nguyên đơn).
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2020/DS-ST Ngày 13 tháng 8 năm 2020 V/v:“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Xuân Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Do
2. Ông Lưu Thông
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hiền Băng - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bưởi - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thẩm thụ lý số: 11/2020/TLST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2020/QĐXXST- DS ngày 09 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2020/QĐST-DS ngày 27 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng NViệt Nam. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Ngọc K - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên. Trụ sở: đường H, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn: Ông Trần Ngọc D- Chức vụ: Phó trưởng phòng Phòng Kế hoạch và Kinh doanh Ngân hàng N Việt Nam - Chi nhánh huyện Đ Đông Gia Lai. Địa chỉ: thị Trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (Theo Quyết định ủy quyền số: 2965/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019 và Giấy ủy quyền số: 216/NHNoĐĐĐ-TH/GUQ ngày 28/7/2020). Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1966 và ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn 2, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trình bày tại các bản khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày như sau:
Ngân hàng N Việt Nam (sau đây còn gọi là nguyên đơn) - thông qua Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển N Việt Nam - Chi nhánh huyện Đông Gia Lai có cho bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1966 và ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1988 (sau đây còn gọi là bị đơn) vay tại Hợp đồng tín dụng số: 17312/HĐTD ngày 06/3/2019 với số tiền vay là 400.000.000 đồng. Nội dung hợp đồng thỏa thuận: Thời hạn vay là 36 tháng (từ 06/03/2020 - 06/03/2022), mục đích vay cải tạo hệ thống tưới, sửa kho, làm sân, tường rào, lãi suất vay 12%/năm, thời hạn trả nợ gốc chia thành 03 kỳ (kỳ 1: đến ngày 06/03/2020 trả 20 triệu đồng; kỳ 2: đến 06/03/2021 trả 20 triệu đồng; kỳ 3: đến 06/03/2022 trả 360 triệu đồng), thời hạn trả lãi 3 tháng/kỳ vào ngày 25 của tháng thứ 3.
Để đảm bảo cho khoản vay trên bị đơn đã thế chấp tài sản theo thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 1780/HĐTC được công chứng ngày 07/03/2018.
Từ khi vay tiền đến nay bị đơn mới trả được 13.939.726 đồng nợ lãi, sau đó không trả nợ gốc và nợ lãi cho nguyên đơn nữa. Do bị đơn vi phạm thời hạn trả nợ gốc và lãi như đã cam kết tại Hợp đồng tín dụng nêu trên nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh tại Hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày ngày 13/8/2020 (ngày xét xử sơ thẩm) với số tiền là: 455.890.410 đồng, trong đó: Nợ gốc 400.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 55.364.383 đồng, nợ lãi quá hạn 526.027 đồng. Trường hợp bị đơn không trả hết nợ gốc và nợ lãi phát sinh tại Hợp đồng tín dụng trên thì nguyên đơn đề nghị xử lý tài sản do bị đơn thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn đều vắng mặt và không có cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án để xem xét.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến khi xét xử, nghị án đều đúng theo quy định của pháp luật. Đối với nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án; riêng bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình, vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án:
+ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Buộc bị đơn chịu án phí tranh chấp dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định pháp luật.
+ Buộc nguyên đơn chịu chi phí tố tụng về việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Theo Hợp đồng tín dụng số: 17312/HĐTD ngày 06/3/2019 thể hiện, bên vay (bị đơn) không có đăng ký kinh doanh, mục đích vay tiêu dùng (vay cải tạo hệ thống tưới, sửa kho, làm sân, tường rào) và bị đơn có địa chỉ tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai nên tranh chấp trên được Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý, giải quyết vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về nội dung:
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn đều vắng mặt và không cung cấp chứng cứ, tài liệu gì để Hội đồng xét xử xem xét.
Căn cứ theo Hợp đồng tín dụng số: 17312/HĐTD ngày 06/3/2019 (bút lục 04 - 05) và các tài liệu khác do nguyên đơn cung cấp tại hồ sơ, thể hiện như sau: Ngân hàng N Việt Nam (sau đây còn gọi là nguyên đơn) - thông qua Ngân hàng N Việt Nam - Chi nhánh huyện Đ Đông Gia Lai có cho bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1966 và ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1988 (sau đây còn gọi là bị đơn) vay số tiền là 400.000.000 đồng tại Hợp đồng tín dụng số: 17312/HĐTD ngày 06/3/2019. Nội dung hợp đồng thỏa thuận: Thời hạn vay là 36 tháng (từ 06/03/2020 - 06/03/2022), mục đích vay cải tạo hệ thống tưới, sửa kho, làm sân, tường rào, lãi suất vay 12%/năm, thời hạn trả nợ gốc chia thành 03 kỳ (kỳ 1: đến ngày 06/03/2020 trả 20 triệu đồng; kỳ 2: đến 06/03/2021 trả 20 triệu đồng; kỳ 3: đến 06/03/2022 trả 360 triệu đồng), thời hạn trả lãi 3 tháng/kỳ vào ngày 25 của tháng thứ 3.
Từ khi vay tiền đến nay bị đơn mới trả được 13.939.726 đồng nợ lãi, sau đó không trả nợ gốc và nợ lãi cho nguyên đơn như đã cam kết tại Hợp đồng tín dụng nên gây thiệt hại cho nguyên đơn nên nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn trả nợ gốc và lãi phát sinh tại Hợp đồng tín dụng số: 17312/HĐTD ngày 06/3/2019 tính đến ngày 13/8/2020 (ngày xét xử sơ thẩm) với số tiền là: 455.890.410 đồng, trong đó: Nợ gốc 400.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 55.364.383 đồng, nợ lãi quá hạn 526.027 đồng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Khi vay tại Hợp đồng tín dụng số: 17312/HĐTD ngày 06/3/2019, bị đơn đã thế chấp cho nguyên đơn tài sản tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 1780/HĐTC được công chứng ngày 07/03/2018 (bút lục 07 - 10), tài sản gồm: Quyền sử dụng đất của thửa đất số 89, 82 tờ bản đồ số 11, 11; diện tích 12.530m2; trên đất có căn nhà cấp 4 diện tích 50m2 và vườn cây cà phê, cây hồ tiêu; tại địa chỉ xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 970932 do UBND huyện Đ cấp ngày 13/11/2003, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 009329 QSDĐ/525/QĐ-UB/CG(H)2003 đứng tên hộ ông Nguyễn Thành L. Đã được chỉnh lý sang tên trang 4 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ cho bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1966 do được thừa kế và xác nhận tài sản khác gắn liền với đất của UBND xã H, huyện Đ tỉnh Gia Lai ngày 07/03/2018). Nguyên đơn yêu cầu trường hợp bị đơn không hết nợ gốc và nợ lãi như đã nêu trên thì yêu cầu xử lý tài sản bị đơn thế chấp ở trên để thu hồi nợ là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí:
Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí tranh chấp dân sự của vụ án theo quy định của pháp luật.
Về chi phí tố tụng:
- Căn cứ Khoản 2 Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nguyên đơn yêu cầu thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nên phải chịu chi phí tố tụng này, với số tiền là 3.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ.
- Căn cứ Khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với số tiền là 5.000.000 đồng. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền 5.000.000 đồng để xem xét, thẩm định tại chỗ nên bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, 35, 39, 91, 92, 93, 227, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 280, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2017;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N Việt Nam (còn gọi là nguyên đơn). Buộc bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Ngọc Q (còn gọi bị đơn) thanh toán cho nguyên đơn khoản nợ gốc và lãi phát sinh tại Hợp đồng tín dụng số: 17312/HĐTD ngày 06/3/2019 tính đến ngày 13/8/2020 với số tiền là: 455.890.410 đồng, trong đó: Nợ gốc là 400.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 55.364.383 đồng, nợ lãi quá hạn là 526.027 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 17312/HĐTD ngày 06/3/2019 kể từ ngày 14/8/2020 cho đến khi trả hết nợ.
2. Trường hợp bị đơn không thanh toán hết nợ gốc và lãi như trên cho nguyên đơn, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Gia Lai xử lý tài sản do bị đơn thế chấp tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 1780/HĐTC được công chứng ngày 07/03/2018, tài sản gồm: Quyền sử dụng đất của thửa đất số 89, 82 tờ bản đồ số 11, 11; diện tích 12.530m2; trên đất có căn nhà cấp 4 diện tích 50m2 và vườn cây cà phê, cây hồ tiêu; tại địa chỉ xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 970932 do UBND huyện Đ cấp ngày 13/11/2003, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 009329 QSDĐ/525/QĐ-UB/CG(H)2003 đứng tên hộ ông Nguyễn Thành L. Đã được chỉnh lý sang tên trang 4 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ cho bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1966 do được thừa kế và xác nhận tài sản khác gắn liền với đất của UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai ngày 07/03/2018) để thu hồi nợ
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Buộc bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Ngọc Q phải chịu án phí tranh chấp dân sự sơ thẩm với số tiền (làm tròn số) là 22.235.616 đồng.
- Trả lại cho Ngân hàng N Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.433.972 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005360 ngày 06 tháng 01 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
4. Về chi phí tố tụng:
Căn cứ Khoản 2 Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Buộc nguyên đơn phải chịu chi phí tố tụng về việc yêu cầu thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng với số tiền là 3.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ.
Căn cứ Khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 5.000.000 đồng. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền 5.000.000 đồng để xem xét, thẩm định tại chỗ nên bị đơn có nghĩa vụ trả thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền này.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, cq. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đoàn Xuân Hòa |