vanban.org

Bản án 15/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 02/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đặng Thanh T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Trần Đặng Thanh T 12 (mƣời hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2019. Tiếp tục quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Đặng Thanh Tiền - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Đặng Thanh T phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ BẢY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2019/HSST
Ngày: 02/7/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Huỳnh Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Văn Tỉnh.

2/ Ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Thẩm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Hoài Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-HS ngày 21/6/2019 đối với bị cáo:

Trần Đặng Thanh T – sinh năm:1991; Tên gọi khác: Không có; Nơi cư trú: Ấp ĐP, xã ĐP1, huyện CT, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm tH1; trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Bé B0, sinh năm 1957 (chết) và bà Đặng Thị P0, sinh năm 1960.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 lần vào ngày 08/02/2019 sử dụng trái phép chất ma túy bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ĐP1, huyện CT, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Bị bắt tạm giam từ ngày 19/4/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Lê Kim H1, sinh năm 1963. (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: Ấp XV A, xã HL, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Trần Văn N2, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Ấp TK 1, xã LT, huyện PH, tỉnh Hậu Giang. (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

+ Nguyễn Thị Mỹ L3, sinh năm 1982 (Vắng mặt).

Trú tại: Ấp XV A, xã HL, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang.

+ Nguyễn Thị Ngọc H3, sinh năm 1979 (Vắng mặt).

Trú tại: Ấp PTT, xã PP, huyện PH, Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Đặng Thanh T, sinh ngày:13/10/1991. ĐKTT: ấp ĐP, xã ĐP1, huyện CT, tỉnh Hậu Giang, đến quán cà phê Hương Quê do bà Lê Kim H1, sinh năm: 1961. ĐKTT: ấp XV A, xã HL, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang ở tại quán từ ngày 01/4/2019. Đến khoảng 10 giờ ngày 03/4/2019 con trai của bà H1 là Huỳnh Cường T4, sinh năm 1996, ĐKTT: ấp XV A, xã HL, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, màu đỏ-đen-bạc, biển số: 95F1-049.18 của bà H1 về nhà đậu ở trước nhà và để chìa khóa trong phòng ngủ, sau đó T4 đi chơi với bạn. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày bà H1 đón xe ôm đi chợ. Tại quán còn lại chị Nguyễn Thị Ngọc H3 là nhân viên của quán và Nguyễn Thị Mỹ L3 (X3) đang làm móng chân cho H3. Lúc này T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là xe môtô biển số 95F1-049.18 nên T đi vào nhà và đi vào phòng ngủ của T4 lấy chìa khóa trên giường, lén lút lấy trộm xe môtô biển số 95F1-049.18 điều khiển xe chạy về hướng thành phố Cần Thơ, khi đến Khóm Đông Thuận, phường Đông Thuận thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long thì gặp Trần Văn N2, sinh năm: 1982, ĐKTT: ấp TK 1, xã LT, huyện PH, tỉnh Hậu Giang, T nói muốn bán xe Sirius biển số: 95F1-049.18 là xe của T nhưng giấy tờ đã bị mất, sau khi xem xe anh N2 đồng ý mua với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) T bán xe lấy T tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị mất xe bà Lê Kim H1 đến Công an xã HL trình báo sự việc. Qua điều tra T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Cơ quan điều tra thu hồi xe trả cho chủ sở hữu.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 08/HĐĐGTT-HS ngày 22/4/2019 của hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TX Ngã Bảy, kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số: 95F1-049.18 (giá trị còn lại 60%) trị giá 12.600.000 đông (Mười hai triệu sáu trăm ngàn đồng).

* Vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ gồm: 01 xe mô tô hiệu Sirius, biển số: 95F1-049.18.

* Về xử lý vật chứng: Vào ngày 09/5/2019 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ngã Bảy ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả 01 xe mô tô hiệu Sirius, biển số: 95F1-049.18 cho chủ sở hữu Lê Kim H1.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Kim H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trần Văn N2 không yêu cầu bị cáo trả lại số T bán xe với giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

Tại cáo trạng số 18/CT-VKS-TXNB ngày 30/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang đã quyết định truy tố Trần Đặng Thanh T có lý lịch và hành vi phạm tội nêu trên ra trước Toà án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang để xét xử về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Trần Đặng Thanh T theo tội danh và điều luật như quyết định cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Đặng Thanh T với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2019.

Về vật chứng: Đã trao trả cho người bị hại Lê Kim H1 nên không đặt ra xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo Trần Đặng Thanh T thừa nhận toàn bộ hành vi trộm xe mô tô của bị hại Lê Kim H1 như nội dung cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai của bị cáo với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có đủ cơ sở khẳng định:

Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 03/4/2019 Trần Đặng Thanh T lợi dụng lúc bà Lê Kim H1 không có ở nhà đã có hành vi lén lút vào phòng ngủ của Huỳnh Cường T4 lấy chìa khóa xe và trộm cắp xe mô tô mang biển số kiểm soát 95F1-049.18 của bà Lê Kim H1 rồi sau đó điều khiển xe chạy về hướng Cần Thơ; khi đến Khóm Đông Thuận, phường Đông Thuận thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long thì gặp Trần Văn N2, T nói muốn bán xe Sirius biển số: 95F1-049.18 là xe của T nhưng giấy tờ đã bị mất, sau khi xem xe anh N2 đồng ý mua với giá 2.000.000 đồng, T bán xe lấy T tiêu xài cá nhân hết. Quá trình điều tra T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 08/HĐĐGTT-HS ngày 22/4/2019 của hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TX Ngã Bảy, kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số: 95F1-049.18 (giá trị còn lại 60%) trị giá 12.600.000 đông (Mười hai triệu sáu trăm ngàn đồng).

Từ những hành vi như đã nêu trên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận Trần Đặng Thanh T phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với Trần Văn N2 khi mua xe mô tô 95F1-049.18 của Trần Đặng Thanh T không nhận thức được xe mô tô 95F1-049.18 là do phạm tội mà có nên chưa đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành có khả năng lao động đầy đủ nhưng lại không lo chí thú làm ăn. Bị cáo đã lợi dụng vào sự thiếu quản lý về tài sản của bị hại để trộm cắp tài sản nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Về nhân thân: vào ngày 08/02/2019 bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ĐP1, huyện CT, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời gian là 03 tháng chưa chấp hành xong, đến ngày 03/4/2019 tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật.

Với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên, xét cần có mức hình phạt tương xứng, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cũng như đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung. Khi lượng hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Ngã Bảy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong, bi hại Lê Kim H1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo trả lại 2.000.000đ T mua xe nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 268, Điều 269 và Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đặng Thanh T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Trần Đặng Thanh T 12 (mƣời hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2019. Tiếp tục quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong, bi hại Lê Kim H1 đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo trả lại 2.000.000đ T mua xe nên không đặt ra xem xét.

Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Trần Đặng Thanh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.

Cỡ chữ