- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Vũ Đức Qu tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư có dấu niêm phong số 607/2018/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và 02 cân điện tử vỏ nhựa màu đen, có đặc điểm là lần lượt in dòng chữ “Digital Scake” và “ Ming Meng 6 s” trên thân vỏ.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2019/HSST Ngày 12-6-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Vinh
Ông Nguyễn Anh Thơ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hoàng- Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thiệm- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2019, tại Nhà văn hóa K 1, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức Qu, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1974 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ 9 phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức B và bà Đoàn Thị Đ; có 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản án số 158/HSST ngày 09/10/2003 Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích), tại Bản án số 206/2009/HSST ngày 12/6/2009 Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 8 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); tạm giữ từ ngày 12/11/2018, chuyển tạm giam từ ngày 16/11/2018; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Phạm Thanh S; vắng mặt.
2. Ông Vũ Văn Th; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h ngày 11/11/2018, Nguyễn Đức Qu đi xe ôm của một người không quen biết đến khu vực đường tàu C, Quận L, Hải Phòng để mua ma túy sử dụng. Tại đây, Qu bảo người lái xe ôm đứng đợi còn Qu đi bộ vào trong đường tàu khoảng 200, đến một ngôi nhà đóng cửa (không nhớ số) gọi hỏi mua 01 gói ma túy (heroine) đựng trong túi nilon với giá 02 triệu đồng. Sau đó, Qu đi bộ ra chỗ người lái xe ôm đang đợi để đi về nhà. Khoảng 19h40’ khi đến khu vực cầu vượt Đ, Qu xuống xe đi bộ về nhà. Qu lên gác lửng lấy gói ma túy ra sử dụng một phần nhỏ, sau đó dùng dao lam chia số ma túy còn lại thành 04 gói, cho vào trong túi nilon và cất vào một lọ nhựa. Khoảng 17h30’ ngày 12/11/2018, Qu dùng băng dính màu đen quấn bên ngoài một gói ma túy, rồi dán ở mặt phía trước, bên trái đầu xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đen, BKS 16R5 0372, bằng băng dính màu đen, mục đích mang đi sử dụng. Trên đường đi, đến khu vực vỉa hè trước cửa nhà số 575 đường Đ, phường Đ2, quận H, Hải Phòng, Qu bị Tổ công tác Đồn biên phòng Tràng Cát kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng.
Tài liệu, đồ vật thu giữ, tạm giữ:
- 01 gói giấy nhỏ màu trắng kích thước 01cm x 02cm, bên ngoài quấn băng dính màu đen, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục (mẫu số 01);
- Một xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen, BKS 15R4 0372 đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đen đã qua sử dụng.
Hồi 20h40 ngày 12/11/2018 Đồn Biên phòng Tràng Cát tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Qu, thu giữ:
- 01 túi nilon nhỏ trong có chứa chất dẻo màu đen (Mẫu số 02).
- 03 túi nilon nhỏ trong có chứa chất bột mầu trắng dạng cục (Mẫu số 03).
- 02 cân điện tử vỏ nhựa màu đen, có đặc điểm là lần lượt in dòng chữ “Digital Scake” và “ Ming Meng 6 s” trên thân vỏ.
- 01 ví da màu đen có in dòng chữ “Merschel”, bên trong có 41 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng.
- 01 ví da màu đen có in dòng chữ “Vietrevel” bên trong có: 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Đinh Thị H; 01 đăng ký xe mô tô BKS: 16R5-0372, mang tên Thành Ngọc Minh Tr; 01 bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Đức Qu.
Tại bản Kết luận giám định số 607 ngày 14/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hải Phòng kết luận:
- Mẫu số 01: 01 gói giấy mầu trắng bên trong có chứa chất bột mầu trắng là ma túy có khối lượng 0,1524 gam, là loại Heroine
- Mẫu số 02: 01 túi nilon nhỏ trong có chứa chất dẻo màu đen là ma túy có khối lượng 0,0529 gam, là loại nhựa Thuốc phiện.
- Mẫu số 03: 03 túi nilon nhỏ trong có chứa chất một mầu trắng là ma túy có khối lượng 3,1362 gam, là loại Heroine.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự 2015; tổng số lượng các chất được xác định như sau:
- Tỷ lệ % trọng lượng của Heroine là: 3,2886 : 5 x 100% = 65,7 %;
- Tỷ lệ % trọng lượng của nhựa thuốc phiện là 0,0529 : 500 x 100 = 0,0 % (0,01%).
Tổng tỷ lệ các chất ma túy Nguyễn Đức Qu tàng trữ là: 65,7% (dưới 100%).
Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSHA ngày 12 tháng 4 năm 2019, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố Nguyễn Đức Qu về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 niêm phong bằng bì thư chất ma túy giám định còn lại và 02 cân điện tử.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức Qu thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung bản cáo trạng và khai: Toàn bộ số ma túy bị cáo mua ngày 11/11/2018 và chia thành 04 gói nhỏ với mục đích để sử dụng dần. Bị cáo dùng 02 cân điện tử để chia nhỏ số ma túy cần dùng để tránh việc sử dụng quá liều lượng. Chiếc xe mô tô BKS 16R5 0372 có đăng ký xe mang tên Thành Ngọc Minh Tr, bị cáo mượn của chị gái Nguyễn Thị Kim O để làm phương tiện đi lại. 41 tờ polymer tiền Việt Nam mệnh giá 500.000đồng đựng bên trong 01 ví da màu đen có in dòng chữ Merschel là tài sản của mẹ bị cáo- bà Đoàn Thị Đ. Bị cáo không nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, sống phụ thuộc vào gia đình, bản thân đang bị nhiễm HIV. Bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập vào hồi 18h 10 phút và Biên bản khám xét được lập vào hồi 20h 40 phút ngày 12/11/2018, phù hợp với nội dung kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Đức Qu là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi cất giấu ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn mua về sử dụng. Ngày 12/11/2018, bị cáo đã có hành vi cất giấu bất hợp pháp 0,1524 gam heroine tại chiếc mô tô BKS 16R5 0372 mà bị cáo đang quản lý, sử dụng và 3,1362 gam heroine; 0,0529 gam nhựa thuốc phiện tại nơi ở của bị cáo. Tổng tỷ lệ % của các chất ma túy mà bị cáo cất giấu là: 65,7 %. Hành vi của bi ̣ cáo là nguy hiểm cho xa hô ̣̃ i , đã trực tiếp xâm pha ̣m đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tinh tiết giảm nhe ̣ trách nhiệm hình sự quy
̀
đi ̣nh ta ̣i điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án đã được xóa án tích, có nhân thân không tốt.
Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và chiều hướng gia tăng. Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội , gia tăng các loại tội phạm nên hình phạt đối với tội phạm ma túy cần phải nghiêm khắc mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nên cần áp dụng đối với bị cáo một hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét hoàn cảnh bị cáo khó khăn, không nghề nghiệp ổn định, sống phụ thuộc vào gia đình, bản thân mắc bệnh hiểm nghèo nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi giám định còn lại, liên quan đến tội phạm, thuộc loại Nhà nước cầm tàng trữ, cấm lưu hành; 02 cân điện tử dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 41 tờ polymer tiền Việt Nam mệnh giá 500.000đồng; 01 ví da màu đen có in dòng chữ Merschel qua điều tra xác định là tài sản của bà Đoàn Thị Đ (mẹ của bị cáo); 01 thẻ bảo hiểm y tế mã số GD 4313122620066 mang tên Nguyễn Đức Qu, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu đen đã cũ của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An đã trả cho bà Đ là có căn cứ.
Đối với 01 ví da kích thước 15cm x 20cm có in dòng chữ “Vietrevel” bên trong ngăn ví có 01 chứng minh thư nhân dân số 050610365 mang tên Đinh Thị H sinh năm 1977, ĐKNKTT: Bản Ú 2, thành phố S cấp ngày 09/12/2015 do chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen mang BKS 16F5-0372 và một đăng ký xe mô tô số 0184802 tên chủ xe là Thành Ngọc Minh Tr, địa chỉ 5/168 đường Đ1, Quận L, Hải Phòng; qua điều tra chưa xác định được nguồn gốc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An tiếp tục xác minh và xử lý sau.
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Những vấn đề khác:
Đối với người lái xe ôm chở bị cáo đi mua ma túy và người bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, xử phạt: Nguyễn Đức Qu 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12/11/2018.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư có dấu niêm phong số 607/2018/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và 02 cân điện tử vỏ nhựa màu đen, có đặc điểm là lần lượt in dòng chữ “Digital Scake” và “ Ming Meng 6 s” trên thân vỏ. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng lập vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 16/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, Hải Phòng).
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án đựơc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi thành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành dân sự đựơc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Hải An; - VKSND TP. Hải Phòng; - TAND TP. Hải Phòng; - CQCSĐT- Công an quận Hải An; - CQTHAHS- Công an quận Hải An; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - Chi cục THA DS quận Hải An; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thủy |