- Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn văn nam - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 47; Điều 48; Điều 65; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK NÔNG Bản án số: 15/2019/HSST Ngày: 14 - 6 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thơm và bà Lê Thị Hòa
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa:
Ông Đặng Văn Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 06 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh năm 1986 tại Nam Định; nơi cư trú: Bon U3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Thợ nhôm kính; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1952 và bà Lâm Thị H, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/12/2018 đến ngày 29/01/2019 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh - có mặt.
Bị hại: Ông Trần Công C, sinh năm 1973 (Địa chỉ: Bon U3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông) - có mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Hồng H, sinh năm 1994 (Địa chỉ: Thôn 13, xã N, huyện C, tỉnh Đăk Nông) - vắng mặt.
Người làm chứng:
1/ Ông Vũ Văn M, sinh năm 1987 (Địa chỉ: Bon U3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông) - có mặt.
2/ Ông Vũ Văn T, sinh năm 1985 (Địa chỉ: Thôn 4, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông) - vắng mặt.
3/ Ông Vũ Văn Q, sinh năm 1991 (Địa chỉ: Thôn 13, xã N, huyện C, tỉnh Đăk Nông) - vắng mặt.
4/ Ông Vũ Hữu Q, sinh năm 1984 (Địa chỉ: Thôn 4, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông) - vắng mặt.
5/ Anh Trần Công S, sinh năm 2003 (Địa chỉ: Bon U3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông) - có mặt.
6/ Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1951 (Địa chỉ: Bon U3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông) - có mặt.
7/ Ông Trần Văn H, sinh năm 1955 (Địa chỉ: Bon U3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông) - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 05/11/2018, Vũ Văn M đến nhà ông Trần Công C (trú cùng Bon U3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông) chơi thì xảy ra cãi nhau, trong lúc cãi nhau ông C có ném ghế nhựa trúng vào xe máy của M. Sau đó M về nhà của Nguyễn Văn N (là bạn của M) trú tại Bon U3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông nói với Nam là bị ông C đánh. Khi nghe N nói vậy, N, M và Vũ Văn Q (em trai M), Vũ Văn Q cùng xuống nhà ông C để nói chuyện. Khi đến nhà ông C thì có Vũ Văn T (anh trai M), Bùi Hồng H (con rể ông C) và ông C đang ngồi uống nước, nói chuyện thì N hỏi ông C tại sao đánh Minh, ông C nói “không phải việc của mày” nên giữa N và ông C xảy ra xô xát, N bị ông C đẩy ngã ra sau, khi N đứng dậy thì bị Bùi Hồng H dùng 01 (một) phích nước màu xanh đập một cái trúng phía sau đầu N. Thấy vậy Q chạy vào ôm và đẩy H vào trong nhà, T và Q vào can ngăn ông C ra. Sau đó ông C chạy vào nhà cầm 01 (một) con dao dài khoảng 40 cm chạy ra dọa đánh N, N liền chạy về nhà cầm 01 (một) con dao có kích thước dài 21 cm và 01 (một) con dao thái thịt có kích thước 35 cm chạy lên nhà ông C, lúc đó ông C cầm 01 (một) tuýp sắt dài khoảng 40 cm ra đứng trước nhà mình. Khi N cầm hai con dao lên tới cổng nhà ông C thì N và ông C tiếp tục cãi nhau rồi N dùng hai tay cầm 02 con dao xông đến đâm nhiều nhát về phía ông C, ông C dùng tay cầm tuýp sắt đưa lên đỡ trúng một phát vào tay phải gây thương tích đồng thời tuýp sắt trúng vào tay, vai phải của N. Sau đó ông C bỏ chạy ra đường vào nhà ông Nguyễn Thanh V (ở Bon U3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông), N đuổi theo sau đến nhà ông V thì ông V không cho N vào nhà nên N đứng ngoài cổng. Một lúc sau, ông C đi ra ngoài đường để về nhà thì thấy N nên ông C nhảy qua hàng rào nhà ông Trần Văn H (ở Bon U3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông) thì bị thương ở gót chân phải. N đi đến trước cổng nhà ông H thì được ông H can ngăn, không cho vào nhà nên N bỏ về nhà rồi đến Bệnh viện huyện Cư Jút để khâu vết thương.
Khi N đến bệnh viện huyện Cư Jút thì gặp Trần Công S là con trai ông C chở ông C đến bệnh viện huyện Cư Jút để điều trị vết thương. Khi nhìn thấy Nam thì ông C nói “mày cũng ở đây hả” thì N đi tới chỗ ông C đấm 01 (một) cái bằng tay phải vào mặt ông C làm ông Ch ngã xuống nền nhà. Thấy vậy, S dùng mũ bảo hiểm ném về phía N nhưng không trúng, sau đó N đuổi theo S nhưng không kịp nên quay lại chỗ ông C đang nằm dùng tay phải đánh nhiều cái vào phần đầu của ông C. Khi thấy ông C bị chảy máu thì N không đánh nữa rồi bỏ đi, còn ông C được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên, tỉnh Đăk Lăk.
Vật chứng:
- 01 (một) con dao có kích thước dài 21 cm, bản dao rộng 02 cm, cán dao bằng nhựa màu cam và 01 (một) con dao thái thịt có kích thước dài 35 cm bản dao rộng 06 cm, cán dao bằng inox mà N dùng gây thương tích cho ông C;
- Đối với 01 (một) phích nước màu xanh mà Bùi Hồng H dùng để đập vào đầu Nguyễn Văn N, sau khi sự việc xảy ra, gia đình ông C đã thu dọn và bán phế liệu cho một đối tượng không rõ địa chỉ nên cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cư Jút không tiến hành thu giữ được.
- Đối với 01 (một) ống sắt dài khoảng 40 cm, trong lúc bỏ chạy ông C đã bỏ rơi ở khu vực trước sân nhà ông C. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
- Đối với 01 con dao dài khoảng 40 cm là con dao ông C cầm để đe dọa N, con dao trên không gây thương tích cho ai nên cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cư Jút không tiến hành thu giữ là có căn cứ.
Tại bản kết luận pháp y thương tích số 40/PY-TgT ngày 11/12/2018 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh Đăk Lăk, kết luận: Trần Công C bị chấn thương sọ não, xuất huyết dưới nhện trái là 16%, vật tác động: cứng, tày. Vết thương xuyên cánh tay phải là 08% cộng lùi 07%, vật tác động: sắc nhọn. Chấn thương vùng hàm mặt 05% cộng lùi 03%, vật tác động: cứng, tày. Gãy xương gót phải 10%, cộng lùi là 08%. Tổng tỷ lệ thương tích của ông Trần Công C là 34%. Trong đó gãy xương gót phải là 10%, cộng lùi là 08% đây là vết thương do ông C nhảy qua hàng rào nhà ông Trần Văn H tạo nên, không phải vết thương do Nguyễn Văn N gây ra.
Tại bản kết luận pháp y thương tích số 97/PY-TgT ngày 25/12/2018 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh Đăk Lăk, kết luận tỷ lệ thương tích của Nguyễn Văn N là 07% sức khỏe do: Đa thương phần mềm ở đỉnh đầu 05%; Chấn thương vai phải 01%, tay phải 01%, vật tác động: cứng có cạnh.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định pháp y của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh Đăk Lăk.
Bản cáo trạng số 18/CTr-VKS ngày 22 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N như bản cáo trạng số 18/CTr-VKS ngày 22 tháng 5 năm 2019: Truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 30 (Ba mươi) đến 35 (Ba mươi lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 (Bốn) năm đến 05 (Năm) năm .
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị HĐXX tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao có kích thước dài 21 cm, bản dao rộng 02 cm, cán dao bằng nhựa màu cam và 01 (một) con dao thái thịt có kích thước dài 35 cm, bản dao rộng 06 cm, cán dao bằng inox mà bị cáo N dùng gây thương tích cho ông C.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận việc bị cáo Nguyễn Văn N đã bồi thường cho ông Trần Công C số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng, ông Trần Công C đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Văn N và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì. Bị cáo không bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 05/11/2018 tại nhà ông Trần Công Ch tại Bon U3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông, Nguyễn Văn N và ông Trần Công C xô xát với nhau, N liền chạy về nhà cầm 01 (một) con dao có kích thước dài 21 cm và 01 (một) con dao thái thịt có kích thước dài 35 cm quay lại để đánh ông C. Khi đến nơi N cầm dao xông đến đâm nhiều nhát về phía người ông C, ông C dùng tay cầm tuýp sắt đưa lên đỡ trúng một phát vào tay phải của ông C gây thương tích 07% đồng thời tuýp sắt trúng vào tay, vai phải của N. Sau đó N đến bệnh viện đa khoa huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông để điều trị vết thương. Tại đây, N tiếp tục gặp ông C và N dùng tay đánh vào mặt ông C làm ông C bị chấn thương vùng hàm mặt gây thương tích 05% cộng lùi 03%, sau đó N tiếp tục dùng tay đánh nhiều cái vào đầu làm ông C bị chấn thương sọ não, xuất huyết dưới nhện trái gây thương tích là 16%. Tổng cộng tỷ lệ thương tích là 26% (Hai mươi sáu) phần trăm sức khỏe.
Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án. Các chứng cứ buộc tội và ý kiến đề nghị của đại diện VKS đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần được chấp nhận.
Như vậy đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (với tình tiết dùng hung khí nguy hiểm qui định tại điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định:
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a) Dùng hung khí nguy hiểm.
…………………………………
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe của công dân và gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải thấy được rằng quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Bất kỳ một hành vi xâm phạm trái pháp luật nào cũng đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội gây thương tích, làm ảnh hưởng đến tinh thần và sức khỏe của người bị hại. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật và cũng nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đồng thời bị cáo đã bồi thường cho người bị hại tổng số tiền 30.000.000 đồng, người bị hại đồng ý và làm đơn bãi nại cho bị cáo, ngoài ra mẹ bị cáo bà Lâm Thị H là người có công với cách mạng. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Hội đồng xét xử cũng đã xem xét khi quyết định mức hình phạt, xét thấy không cần cách ly bị cáo Nguyễn Văn N ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) cho bị cáo được hưởng án treo, giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo phối hợp cùng chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật và Nhà nước.
Đối với anh Bùi Hồng H có hành vi dùng phích nước đánh vào sau đầu của bị cáo Nguyễn Văn N gây thương tích 05%. Tuy nhiên Nguyễn Văn N đã rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên cơ quan Công an huyện Cư Jút đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với anh Bùi Hồng H theo qui định của pháp luật.
Đối với ông Trần Công C sử dụng tuýp sắt đỡ dao của bị cáo Nguyễn Văn N thì tuýp sắt trúng vào vai N gây thương tích 01% và vào tay N gây thương tích 01% đây là hành động phòng vệ chính đáng. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Văn N cũng đã rút đơn yêu cầu khởi tố nên cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút không xử lý đối với hành vi của ông Châu là có căn cứ.
Đối với vết thương gãy gót phải là 08%, đây là vết thương do ông Châu nhảy qua hàng rào nhà ông Trần Văn H tạo nên, không liên quan đến vụ án nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao có kích thước dài 21 cm, bản dao rộng 02 cm, cán dao bằng nhựa màu cam và 01 (một) con dao thái thịt có kích thước dài 35 cm, bản dao rộng 06 cm, cán dao bằng inox mà bị cáo N dùng gây thương tích cho ông C
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận việc bị cáo Nguyễn Văn N đã bồi thường cho ông Trần Công C số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng, ông Trần Công C đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét những chứng cứ buộc tội bị cáo, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đưa ra phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên HĐXX cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 47; Điều 48; Điều 65; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015
- Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn N cho UBND thị trấn Ea T’ling, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
[2] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao có kích thước dài 21 cm, bản dao rộng 02 cm, cán dao bằng nhựa màu cam và 01 (một) con dao thái thịt có kích thước dài 35 cm, bản dao rộng 06 cm, cán dao bằng inox mà bị cáo Nam dùng gây thương tích cho ông Châu.
(Đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an huyện Cư Jút với Chi cục Thi hành án huyện Cư Jút ngày 27/5/2019)
[3] Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo Nguyễn Văn N đã bồi thường cho ông Trần Công C số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng, và ông C không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm
[4]Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo qui định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Đăk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Cư Jút; - Công an huyện Cư Jút; - CCTHADS huyện Cư Jút; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |