- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THUỶ TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2019/HSST Ngày: 03/7/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THUỶ, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Triệu Thị Tình
2. Ông Hà Văn Trường
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thuỷ tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 07 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 16/2019/HSST, ngày 27/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXXST- HS ngày 13/6/2019 đối bị cáo:
Họ tên: Bùi Xuân H; sinh ngày:18/02/1993.Tại xã C, huyện Cảm Thủy, tỉnh Thanh Hóa
Nơi cư trú: Thôn Đồng Thanh, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo:Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Bùi Ngọc T và bà: Nguyễn Thị Th. Vợ: Lê Thị Ch, Sinh năm: 1992 và có 01 con sinh năm 2017. Tiền án, Tiền sự: Không
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2019 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
Người làm chứng: Ông Bùi Ngọc T
Trú tại: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/03/2019, Bùi Xuân H, điều khiển xe máy BKS: 36G5-01083 từ nhà ở tại thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa vào huyện Ng, tỉnh Thanh Hóa mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến khu vực Ngã tư thuộc xã Q, huyện Ng thì H có gọi điện cho một người tên là Nghĩa người ở Ngọc Lặc (không biết họ tên đầy đủ địa chỉ cụ thể) để hỏi mua ma túy (heroin) với số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Nghĩa đồng ý cầm số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) và bảo H đứng đợi để Nghĩa đi lấy ma túy. Khoảng 45 phút sau thì Nghĩa đi đến chỗ H và đưa cho H 02 (Hai) gói nilon bên trong có chứa chất ma túy. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, sau khi mua được ma túy, H đi về nhà, khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn Đồng Thanh, xã C, huyện C thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe để kiểm tra, phát hiện thấy lực lượng Công an, H đã nhanh tay ném 02 (Hai) gói nilon màu đen xuống đường để phi tang nhưng vẫn bị tổ công tác phát hiện thu giữ. Qua kiểm tra phát hiện bên trong gói nilon màu đen là lớp giấy màu trắng có dòng kẻ đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (nghi là Heroin)
Tại bản kết luận giám định số 853/MT-PC09 ngày 19/03/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,407g (Không phẩy bốn không bảy gam), loại Heroin.
Nguồn gốc số ma túy (Heroin) mà Bùi Xuân H tàng trữ là do H mua của một người đàn ông tên Ng ở huyện Ng, tỉnh Thanh Hóa (không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể), nên cơ quan CSĐT Công an huyện C không có cơ sở xem xét
Đối với chiếc xe máy BKS: 36G5-01083, nhãn hiệu HONDA Waves 110 màu đen là phương tiện H sử dụng để đi mua ma túy ngày 14/03/2019, qua điều tra xác định chủ sử hữu là ông Bùi Ngọc T (bố đẻ của H). Việc H dùng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy về sử dụng, ông T không biết. Do đó, ngày 08/5/2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy BKS: 36G5-01083 cho chủ sử hữu là ông Bùi Ngọc T.
Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS-MT ngày 24/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã quyết định truy tố bị cáo Bùi Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (BLHS)
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2; Điều 51, Điều 38, Điều 47- BLHS, Điều 106, Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 xử phạt Bùi Xuân H từ 24tháng – 30 tháng tù. Về vật chứng: Đề nghị Tịch thu tiêu hủy 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa ma túy; 01 ĐTDĐ NOKIA vỏ màu đen,bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy,nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Về án phí bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Xuân H thừa nhận hành vi phạm tội được nêu trong bản cáo trạng là đúng. Nay bị cáo đã thực sự hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo sớm trở về hòa nhập cộng đồng,
Người làm chứng cũng có lời khai phù hợp với các tình tiết nêu trong bản cáo trạng.
NHẬN ĐỊNH CỦATÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên.Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17h 30 phút ngày 14/3/2019, Bùi Xuân H đã có hành vi tàng trữ ma túy có trọng lượng 0,407g (Không phẩy bốn không bảy gam), loại Heroin nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của Bùi Xuân H đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tủy theo quy định tại khoản 1, Điều 249 BlHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc,cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[5]. Về vật chứng và xử lý vật chứng: Gồm 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất màu trắng ngà dạng cục vụn (khối lượng còn lại sau giám định là 0,369g; (loại heroine) nên tịch thu tiêu hủy
+ 01 ĐTDĐ NOKIA màu đen, liên quan đến vụ án nên tịch thu sung công
[6].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ: Khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38, Điều 47- BLHS, Điều 106; Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Xử phạt: Bị cáo Bùi Xuân H 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2019
Về vật chứng vụ án: - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong có 0,369g ma túy (Hê roin) là mẫu vật còn lại sau giám định, được đóng dấu niêm phong bởi 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và các chữ ký của Nguyễn Trần Đ, Trần Thị Thúy H, Triệu Nguyễn Tài A.
-Tịch thu sung công một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận tang vật ngày 27 tháng 5 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C )
Về án phí: Bị cáo Bùi Xuân H phải chịu 200.000đ án phí HSST
Án xử công khai. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an huyện C; - VKND huyện C; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS huyện C - Các Cơ quan hữu quan; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thầm phán - Chủ tọa phiên tòa ( Đã ký ) Lê Thị Thanh |