vanban.org

Bản án 15/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 03/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Công M phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THỊ!XÃ!GIA!NGHĨA!
TỈNH!ĐẮK!NÔNG!
Bản án số: 15/2019/HS-ST
Ngày: 03-5-2019

NHÂN!DANH!

!NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THỊ!XÃ!GIA!NGHĨA,!TỈNH!ĐẮK!NÔNG!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Ất và bà Đỗ Thị Mau.

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Quốc Chương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Đinh!Công!M, sinh năm 1995, tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Ấp 3, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị G; chưa có vợ, con; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/8/2018 - có mặt.

- Bị hại:

Ông Phạm Cao H, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966; cùng địa chỉ: Tổ 5, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông, có mặt.

Chị Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ 2, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông, có mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/8/2018 Đinh Công M cùng các đối tượng Lục Văn T, Phạm Hoàng P và T (chưa rõ nhân thân lai lịch) rủ nhau đi từ huyện L, tỉnh Bình Phước đến địa bàn thị xã G để trộm cắp tài sản. T chuẩn bị kìm và vam phá khóa rồi cùng T đón xe khách đi trước, còn P điều khiển xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) chở M đi sau.

Đêm ngày 18/8/2018 cả nhóm thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ Hoàng Phương thuộc tổ 1, phường N, thị xã G do bà Hoàng Thị Thu H làm chủ. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 19/8/2018 T điều khiển chiếc xe mô tô trên chở M, P, T đi từ nhà nghỉ Hoàng Phương dọc theo Quốc lộ 28 hướng về xã Đ tìm tài sản trộm cắp. Khi đi ngang qua nhà ông Phạm Cao H và bà Nguyễn Thị H thì phát hiện bên trong có 04 chiếc xe mô tô dựng ngoài sân, cửa cổng bằng sắt đã khóa. Lúc này T dừng xe, phân công M và P đứng ngoài cảnh giới còn T và T dùng kìm, vam phá khóa để phá ổ khóa cổng, lần lượt lấy trộm 02 chiếc xe mô tô kiểu dáng Vision BKS 48B1-397.29 (màu trắng) và BKS 48B1- 487.35 (màu đỏ đen) của bà H, 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Future Fi, màu xanh xám BKS 48B1- 487.92 của ông H và 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Airbalde, màu đỏ trắng đen BKS 47S1-!037.40 của chị Nguyễn Thị Bích H, là cháu của ông H.

Sau khi chiếm đoạt được 04 xe mô tô trên, T và T quay lại nhà trọ Hoàng Phương cất chiếc xe mô tô (không rõ Biển kiểm soát) rồi cùng M và P điều khiển 04 chiếc xe trộm cắp về tỉnh Bình Phước, tập kết để tiêu thụ. M điều khiển xe kiểu dáng Vision BKS 48B1-397.29, T điều khiển xe kiểu dáng Vision BKS 48B1 – 487.35, P điều khiển xe Future Fi BKS 48B1-!487.92 và T điều khiển xe Airbalde BKS 47S1-037.40. Khi đi đến địa bàn huyện Đắk R’lấp thì M bị phát hiện và bắt giữ cùng xe mô tô kiểu dáng Vision BKS 48B1-397.29. Các đối tượng T, T và P điều khiển xe mô tô chạy trốn thoát.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ được 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Vision, màu trắng, BKS 48B1-397.29.

Đối với 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Vision màu đỏ BKS 48B1- 487.35; 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Future Fi màu xanh xám BKS 48B1- 487.92 và 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Airbalde màu đỏ trắng đen BKS 47S1- 037.40, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo và truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa thu giữ được.

Tại bản Kết luận định giá số 60/KL-HĐĐG ngày 22/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thị xã Gia Nghĩa kết luận, tại thời điểm ngày 19/8/2018 xe mô tô kiểu dáng Vision BKS 48B1-! 397.29 trị giá 19.950.000đ, xe mô tô kiểu dáng Vision BKS 48B1-487.35 trị giá 21.960.000đ, xe mô tô kiểu dáng Future Fi BKS 48B1- 487.92 trị giá 15.180.000đ và xe mô tô kiểu dáng Airbalde BKS 47S1-037.40 trị giá 13.200.000đ. Tổng trị giá của 04 chiếc xe trên là 70.290.000đ.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 11 tháng 4 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Đinh Công M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đinh Công M từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/8/2018.

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị chấp nhận ngày 29/8/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa ra Quyết định xử lý vật chứng số 846, trả lại chiếc xe mô tô kiểu dáng Vision BKS 48B1-397.29 cho bà Nguyễn Thị H.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Đinh Công M phải bồi thường thiệt hại giá trị tài sản trộm cắp của các chiếc xe mô tô BKS 48B1-487.35, BKS 48B1- 487.92 và BKS 47S1-037.40, theo kết quả định giá cho những người bị hại theo quy định pháp luật. Đối với chiếc xe mô tô BKS 48B1 – 397.29 bà H đã nhận lại và không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng là đúng, không oan. Bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào đêm 19/8/2018, tại tổ 5, phường N, thị xã G, bị cáo Đinh Công M cùng các đối tượng tên T, T và P đã dùng kìm, vam phá khóa để phá ổ khóa cổng nhà của ông Phạm Cao H, bà Nguyễn Thị H lén lút chiếm đoạt được 04 chiếc xe mô tô gồm 02 chiếc kiểu dáng Vision BKS 48B1-397.29 và BKS 48B1-487.35, 01 chiếc kiểu dáng Future Fi BKS 48B1-487.92 và 01 chiếc kiểu dáng Airbalde BKS 47S1-037.40. Trên đường đưa đi tiêu thụ thì M bị phát hiện và bắt giữ cùng xe kiểu dáng Vision BKS 48B1-397.29. Các đối tượng T, T và P điều khiển các xe còn lại trốn thoát. Hội đồng định giá tài sản kết luận 04 chiếc xe mô tô trên có tổng giá trị là 70.290.000đ. Do vậy, hành vi của bị cáo M đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

...”.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng rất xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, bất an trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có đủ điều kiện để nhận thức được trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lối sống buông thả, lười lao động, thích hưởng thụ, bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy cần xử phạt hình phạt tù với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án: Ngày 29/8/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa ra Quyết định xử lý vật chứng số 846, trả lại chiếc xe mô tô kiểu dáng Vision BKS 48B1-397.29 cho bà Nguyễn Thị H là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ được 01 chiếc xe mô tô BKS 93FB-2406, nhãn hiệu Nagaki, màu sơn đen xám tại nhà nghỉ Hoàng Phương, do các đối tượng T, T và P để lại. Qua xác minh, điều tra có căn cứ xác định chiếc xe trên do anh Triệu Văn T, trú tại xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước đứng tên chủ sở hữu nhưng đã bị mất tại địa bàn huyện L, tỉnh Bình Phước vào tháng 8/2018. Ngày 10/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa có Công văn số 198/CV-CSĐT gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bình Phước để phối hợp, bàn giao vật chứng giải quyết theo đúng quy định pháp luật là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị H, ông Phạm Cao H và chị Nguyễn Thị Bích H yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại là giá trị của xe mô tô kiểu dáng Vision BKS 48B1-487.35, xe mô tô kiểu dáng Future Fi BKS 48B1- 487.92 và xe mô tô kiểu dáng Airbalde BKS 47S1-037.40 theo kết luận định giá số 60/KL-HĐĐG ngày 22/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản là hợp lý nên cần chấp nhận. Đối với chiếc xe mô tô BKS 48B1 – 397.29 bà H đã nhận lại và không yêu cầu gì thêm nên không đề cập giải quyết.

[7] Xét bị cáo hiện tại không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Trong vụ án này có 03 đối tượng khác gồm T, T và P cùng tham gia trộm cắp các tài sản cùng bị cáo M vào đêm 19/8/2018. Riêng đối tượng T không có thông tin về nhân thân nên không có cơ sở xác minh, còn các đối tượng Lục Văn T và Phạm Hoàng P Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thực hiện các hoạt động tố tụng để điều tra, xác minh nhưng không có kết quả. Ngày 22/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã ra Quyết định số 262A tách hành vi của 03 đối tượng trên để tiếp tục điều tra là có căn cứ.

[9] Xét các chứng cứ buộc tội và quan điểm đề nghị về mức hình phạt, về xử lý vật chứng và các vấn đề khác của Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[10] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo và những người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đinh Công M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đinh Công M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/8/2018. !

2.!Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa ra Quyết định xử lý vật chứng số 846 ngày 29/8/2018 trả lại chiếc xe mô tô kiểu dáng Vision BKS 48B1-397.29 cho bà Nguyễn Thị H là chủ sở hữu hợp pháp.

3.!Việc bồi thường thiệt hại:!Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Đinh Công M phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị H số tiền 21.960.000đ (hai mươi mốt triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng), cho ông Phạm Cao H số tiền 15.180.000đ (mười lăm triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) và cho chị Nguyễn Thị Bích H số tiền 13.200.000đ (mười ba triệu hai trăm nghìn đồng).!

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành các khoản tiền trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

4.! Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đinh Công M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.517.000đ (hai triệu năm trăm mười bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. !

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ