- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản Lý H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý H (Ch) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2019/HS-ST Ngày 18-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Út.
Ông Võ Tấn Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sà Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Lý H, tên gọi khác: Ch; Sinh ngày: 11/5/1995.
Nơi cư trú: Ấp Trà D, xã Lâm K, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý K và bà Triệu Thị V; Vợ và con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không có án tích; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2019 (Bị cáo có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Minh Th - Luật sư Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, Sở tư pháp tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
Bị hại: Bà Sơn Thị Ch, sinh năm 1968 (có mặt);
Trú ấp Trung Th, xã Tuân T, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Văn H - Luật sư Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, Sở tư pháp tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Dương Hoành N, sinh năm 1978 (có mặt);
Trú ấp Trung Th, xã Tuân T, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
2/ Ông Dương Sà R, sinh năm 1951 (có mặt).
Trú ấp Trà D, xã Lâm K, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
Người làm chứng:
1/ Ông Trần Văn B, sinh năm 1947 (có mặt).
Trú ấp Trà D, xã Lâm K, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
2/ Ông Trần Tuấn Kh, sinh năm 1999 (vắng mặt).
Trú ấp Tâm Th, xã Đại T, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Thạch Ngh - Ban Trị sự Chùa Xa M 2, thị trấn Phú L, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 22 tháng 8 năm 2019 bị cáo Lý H đến nhà ông Dương Sà R ấp Trà D, xã Lâm K, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, để sử dụng mạng Wifi của nhà ông R.
Khoảng 15 giờ cùng ngày bị cáo H đi vệ sinh, đi cặp hông nhà, ngang phòng ngủ thứ 2 nhà ông R nhìn qua cửa sổ thấy có một túi xách màu đỏ để trên giường (túi xách này là của bà Sơn Thị Ch), bị cáo H đi đến chuồng vịt gần đó nhặt một đoạn ống nước bằng nhựa (loại ống phi 34) có chiều dài 107 cm, cầm ống nhựa bằng tay trái đưa qua cửa sổ phòng ngủ để móc túi xách kéo đến gần cửa sổ, bị cáo đưa tay vào cửa sổ để mở dây kéo túi xách bên trong có 04 sấp tiền tổng cộng là 40.800.000 đồng, gồm 03 sấp tiền mỗi sấp 20 tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng (mỗi sấp 10.000.000 đồng), 01 sấp tiền có 108 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (10.800.000 đồng), bị cáo lấy hết tiền bỏ vào túi quần đi về nhà.
Khi về nhà bị cáo H kêu xe ôm của ông Trần Văn B (S) để chở bị cáo đi Sóc Trăng, khi đến nhà nghỉ Hùng L bị cáo thuê phòng số 02, sau đó rủ Kh đi Sóc Trăng uống cà phê. Khi đến Sóc Trăng bị cáo H cùng Kh và bạn của Kh uống cà phê và hát Karaoke, sau đó bị cáo H và Kh cùng với Danh Minh H và Th (chưa rõ nhân thân, địa chỉ) về nhà nghỉ Hùng L, bị cáo sử dụng số tiền vừa trộm chi tiêu các khoảng hết 11.800.000 đồng, còn lại 29.000.000 đồng.
Đến ngày 10/9/2019 bị cáo Lý H đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Trị đầu thú và giao nộp số tiền bị cáo đã trộm cắp còn lại 29.000.000 đồng, số tiền bị cáo đã chi xài là 11.800.000 đồng chưa khắc phục cho bị hại.
Tại phiên tòa bị cáo Lý H trình bày: Ngày 22 tháng 8 năm 2019 bị cáo đến nhà ông R để sử dụng mạng Wifi, khi đi ngang phòng ngủ thứ 2 nhà ông R nhìn qua cửa sổ thấy có một túi xách màu đỏ để trên giường, bị cáo nghĩ trong túi xách có tiền nên H nhặt một đoạn ống nước bằng nhựa gần đó đưa qua cửa sổ phòng ngủ để móc túi xách kéo đến gần cửa sổ, bị cáo dùng tay đưa vào cửa sổ để mở dây kéo túi xách bên trong có 04 sấp tiền tổng cộng là 40.800.000 đồng, bị cáo lấy hết tiền bỏ vào túi quần đi về nhà. Khi về nhà bị cáo H kêu xe ôm của ông Trần Văn B (S) để chở bị cáo đi Sóc Trăng; Ông B chở H đi đến Bưu điện xã Thạnh P thì trời tối. Bị cáo H gọi điện cho bạn là Trần Tuấn Kh, đang làm quản lý nhà nghỉ Hùng L đến rước bị cáo đến nhà nghỉ Hùng L, bị cáo thuê phòng số 02, rồi rủ Khiêm đi Sóc Trăng uống cà phê. Khi đến Sóc Trăng bị cáo H cùng Kh và bạn của Kh uống cà phê và hát Karaoke, sau đó bị cáo H về nhà nghỉ Hùng L, bị cáo sử dụng số tiền vừa trộm tiêu xài hết 11.800.000 đồng, số tiền còn lại 29.000.000 đồng bị cáo đến công an huyện Thạnh Trị đầu thú và giao nộp số tiền trên.
Người bào chữa cho bị cáo ông Phạm Minh Th trình bày: Thống nhất quan điểm truy tố về tội danh và áp dụng pháp luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị, nhưng đề nghị Tòa án áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 06 tháng tù cho bị cáo hưởng án treo.
Bị hại bà Sơn Thị Ch trình bày: Vào ngày 22/8/2019 bà có đến nhà ông Dương Sà R (Cha chồng bà) chơi có mang theo túi xách màu đỏ đựng số tiền 40.800.000 đồng để trong phòng ngủ nhà ông R. Khi đến nhà ông R chơi một lúc thì bà mới vào phòng kiểm tra túi xách phát hiện bị mất số tiền 40.800.000 đồng, nên đến công an xã Lâm K trình báo sự việc. Sau đó, bà được cơ quan điều tra trả lại 29.000.000 đồng, tại Tòa số tiền còn lại 11.800.000 đồng bị cáo đã tiêu xài chưa khắc phục bà đồng ý cho bị cáo, không yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại ông Phạm Văn H trình bày: Không yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 11.800.000 đồng, do bị hại không yêu cầu, về trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo hưởng án treo.
Bản Cáo trạng số 16/CT-VKSTT ngày 28/10/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Lý H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự không xem xét do bị hại không yêu cầu buộc bị cáo bồi thường. Vật chứng trả lại một ống nhựa cho ông Rinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan Điều tra và cơ quan Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử xác định ông Dương Sà R là người làm chứng chưa chính xác vì ông R có liên quan đến vật chứng vụ án, nên Tòa án xác định ông Rinh là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đối với người làm chứng ông Trần Tuấn Kh vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt không cản trở việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.
Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo đã có hành vi lấy tài sản của bà Ch gồm số tiền 40.800.000 đồng. Như vậy, bị cáo H có hành vi lén lút lấy tiền của bà Ch, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở xác định khoảng 15 giờ ngày 22/8/2019, tại nhà của ông Dương Sà R, ấp Trà D, xã Lâm K, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Lý H đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại bà Ch số tiền 40.800.000 đồng. Do đó, bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của bị hại nên bị cáo đã thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đầu thú, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét khi lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường, Tòa án không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Tài sản gồm ống nhựa thuộc sở hữu của ông Dương Sà Rinh nên trả lại cho ông Rinh là phù hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị của người bào chữa đối với bị cáo về mức hình phạt là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận, còn việc đề nghị cho bị cáo hưởng án treo không được chấp nhận, vì tài sản bị cáo trộm có giá trị lớn, tội trộm cắp tài sản có chiều hướng gia tăng nếu cho bị cáo hưởng án treo chưa đủ sức răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Đề nghị của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần, còn việc đề nghị cho bị cáo hưởng án treo không được chấp nhận như đã phân tích trên.
Đề nghị của Viện kiểm sát về áp dụng pháp luật, cũng như về xử lý vật chứng và án phí đều phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận, về mức hình phạt 09 tháng tù quá nghiêm khắc đối với bị cáo nên đề nghị của Viện kiểm sát được chấp nhận một phần.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
1. Tuyên bố bị cáo Lý H (Ch) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lý H (Ch) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Sơn Thị Ch không yêu cầu, Tòa án không xem xét.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả cho ông Sơn Sà R tài sản gồm: 01 đoạn ống nhựa, chiều dài 107 cm, một đầu đường kính 34 mm, một đầu đường kính 39 mm, màu xanh trắng. Hiện tài sản trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng quản lý (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng).
4. Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng bị cáo Lý H phải chịu, nhưng bị cáo Lý H được miễn nộp toàn bộ tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
5. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Thạnh Trị; - Công an huyện Thạnh Trị; - Chi cục THADS huyện Thạnh Trị; - Bị cáo, bị hại, người bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của bị hại; người liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Nam |