- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chang Chang Ph - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chang Chang Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15 /2019/HS-ST Ngày 31/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Ngọc Kiên
2. Ông Quàng Văn Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Thào A Di - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 5 năm 2019 đối với.
Bị cáo Chang Chang P; sinh năm 1970 tại xã Sen Thượng, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Leng Su Sìn, xã Leng Su Sìn, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm nương; trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Hà Nhì; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chang Khai Ph ( đã chết) và con bà Vàng Y M sinh năm 1939; có vợ là Khoàng Xé P sinh năm 1970 và 03 con; tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị cáo Chang Chang Ph bị bắt tạm giữ từ ngày 28 tháng 02 năm 2019 đến ngày 03 tháng 3 năm 2019. Bị cáo Chang Chang Ph bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cứ trú, được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 28 tháng 02 năm 2019 bị cáo Chang Chang Ph đi bộ từ nhà ra quốc lộ 4H có đi nhờ xe máy của một người đàn ông không biết tên xuống bản Đoàn Kết, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé để tìm mua thuốc phiện về sử dụng. Khi bị cáo Chang Chang Ph đi đến cầu treo bản Nậm Pắc, xã Chung Chải thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Bị cáo Chang Chang Ph mua được 01(một) gói nhỏ thuốc phiện với số tiền là 600.000 đồng. Mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo Chang Chang Ph không biết, còn bị cáo Chang Chang Ph cho gói thuốc phiện đó vào trong túi áo và đi bộ quay về nhà. Vào khoảng 16 giờ 20 phút khi về đến bản Suối Voi, xã Leng Su Sìn, huyện Mường Nhé thì gặp tổ công tác Biên phòng Leng Su Sìn làm nhiệm vụ, tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện, bắt quả tang đối với Chang Chang Ph thu giữ 01 (một) gói thuốc phiện và đưa về cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Nhé để làm rõ.
Ngày 02 tháng 3 năm 2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, khối lượng thuốc phiện thu giữ của Chang Chang Ph là 22,48 gam. Tại bản kết luận giám định số: 329/GĐ-PC09 ngày 13 tháng 3 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất dẻo màu nâu đen khối lượng 4,17 gam gửi giám định của Chang Chang Ph là thuốc phiện không hoàn lại. Tổng khối lượng 22,48 gam thu được của Chang Chang Ph là thuốc phiện.
Bản cáo trạng số: 14/CT-VKS- MN ngày 14 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Chang Chang Ph để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Xử phạt bị cáo Chang Chang Ph từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106; 136 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án và miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Chang Chang Ph thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, thành viên hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa; đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại hoặc ý kiến gì.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào 16 giờ 20 phút ngày 28 tháng 02 năm 2019 tổ công tác Đồn biên phòng Leng Su Sìn làm nhiệm vụ tại khu vực bản Suối Voi, xã Leng Su Sìn, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang Chang Chang Ph đang cất dấu 01(một) gói nhỏ thuốc phiện trong túi áo là hoàn toàn đúng sự thật. Hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 22,48 gam thuốc phiện nhằm mục đích để sử dụng của Chang Chang Ph đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn có ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo Chang Chang Ph sinh ra và lớn lên ở xã Sen Thượng, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không được đi học lớn lên ở nhà phụ giúp gia đình. Bị cáo Chang Chang Ph là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Chang Chang Ph không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Chang Chang Ph từ 12 đến 15 tháng tù. Xét thấy đề nghị này của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó cần xem xét, xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát.
Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo còn nhiều khó khăn, thuộc diện hộ nghèo. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 249 BLHS đối với bị cáo.
Đối với đối tượng người đàn ông dân tộc H Mông bán thuốc phiện, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi địa chỉ ở đâu, do đó không có cơ sở để xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đối với khối lượng 18,31 gam thuốc phiện còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Chang Chang Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Chang Chang Ph: 12 ( Mười hai) tháng tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ là 03 ( ba) ngày. Bị cáo Chang Chang Phạ còn phải chấp hành án là: 11 tháng 27 ngày. Thời gian tù tính từ ngày bắt chấp hành án tại trại.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ khối lượng: 18,31 gam thuốc phiện là vật chứng vụ án Chang Chang Ph. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 5 năm 2019 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Chang Chang Ph.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị cáo Chang Chang Ph có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA Tòa án tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Nhé; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan ĐT Công an huyện Mường Nhé; - Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Nhé; - Cơ quan THAHS Công an huyện Mường Nhé; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện Mường Nhé; - Phòng Hành chính Sở Tư pháp; - Lưu HS, HSTHA. Các thành viên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Bách Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |