vanban.org

Bản án 15/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 26/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng Th và Trương Công L phạm tội “Trộm cắp t ài sản” .

Áp dụng : Điểm g khoản 2 Điều 173 ; Điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật h ình sự. Xử phạt : Bị cáo Nguyễn Trọng Th: 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt t ù tính từ ng ày tạm giữ: 08/11/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Th và Trương Công L phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng Th và Trương Công L phạm tội “Trộm cắp t ài sản” .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật h ình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng h ình sự; Điều 173 Bộ luật h ình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H À TRUNG
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 15/2019/HS-ST
Ngày: 26/3/2019

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG HO

À XÃ HỘ I CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: Ông Hoàng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Li ên

2. Ông Đoàn Thân

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu H à - Thư k ý Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hoá, xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án h ình sự sơ th ẩm thụ lý số 14/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2019, theo Quyế t định đ ưa v ụ án ra xét xử số 19/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2019 đối với các bị cáo :

1/ Nguyễn Trọng Th, sinh năm 1982; Tại: xã Th, huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú : Thôn 5, xã Th, huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: L ao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trọng Th và bà Lê Thị Nh ; Có vợ l à Lê Thị S (đã ly hôn) và có 01 con; Tiền sự : Không; Tiền án: 02:

- Ngày 29/9/2015 bị T òa án nhân dân huyện Thạch Th ành, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 thán g tù về tội “Trộm cắp t

ài sản” .

- Ngày 16/3/2016 bị T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng t ù về tội “Trộm cắp t

ài sản” và tổng hợp h ình phạt 12 tháng t ù của bản án số 32 ng ày 29/9/2015 của T òa án nhân dân huyện Thạch Th ành, tỉnh Thanh Hóa. Chấp h ành xong ngày 18/01/2018.

Nhân thân: Ngày 17/10/2012 bị T òa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh

Hóa xử phạt 06 tháng t ù về tội “Trộm cắp t

ài sản” . Chấp h ành xong ngày 12/01/2013.

Bị bắt t ạm giữ từ ng ày 08/11/2018 đến ng ày 14/11/2018 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

2/ Trương Công

L, sinh năm 1978; Tại: xã Th, huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn 6, xã Th, huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới

tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông

Trương Công Đ (đã chết) và bà Phạm Thị V ; Có vợ là Trần Thị S (X) và có 02 con; Tiền sự: Không; Tiền án:

Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 08/11/2018 đến ng ày 14/11/2018 đư ợc thay đổi bằng lệnh

cấm đi khỏi n ơi cư trú; Có mặt.

Bị hại :

+ Anh Đào Văn H - Sinh năm 1974 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H , tỉnh Thanh Hóa .

+ Chị Ho àng Thị H - Sinh năm 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 4, xã H, huyện H , tỉnh Tha nh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài L có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ng ày 08/11/2018 Nguyễn Trọng Th đi chơi g ặp Tr ương

Công L, ngư ời c ùng xã, Th rủ L đi trộm chó bán l ấy tiền ti êu sài, L đồng ý. Sau đó hai ngư ời trở về nh

à của m ình, Th chuẩn bị 01(một) bộ kích điện có gắn b

ình ắc quy để trong ba lô m àu xanh đen và 01(một) cần có gắn dây điện, 01(một) cuộn băng dính màu đen. L chuẩn bị 03(ba) b ì sắc rắn m àu cam, 04(bốn) đoạn dây thép một ly d ài khoảng 30cm m àu đen, 01 xe máy Exciter màu đỏ đen BKS 36P2 -9101. Đến khoảng 18 giờ c ùng ngày L điều khiển xe máy đến nh à Th đón Th đi từ x ã Th ra QL1A, đến chợ L èn thuộc địa phận huyện H

thì rẽ ph ải l ên đư ờng đ ê xã H đi qua UBND xã H vào thôn T, xã H, L rẽ trái v ào đư ờng li ên thôn hư ớng đi về đư ờng đ ê xã H đư ợc khoảng 10m th ì phát hiện 01(một) con chó lông màu xám, L điều khiển xe chậm lại,

Th dùng cần có gắn dây điện dí v ào cổ con chó đến khi con chó gục xuống đất th

ì cả hai xuống xe máy, Th dùng cuộn băng dính m àu đen cuốn xung quanh mồm con chó rồi cho v ào bì sắc rắn v à hai ngư ời để l ên khung xe máy tiếp tục đi đến ng ã ba thôn B, xã H. Tại đây, Th và L phát hiện một con chó lông màu đen đang ở b ên trái đư ờng. Cũng cách thức nh

ư trên hai đ ối t ư ợng bắt đ ư ợc con chó này và nhanh chóng quay xe đi ra hư ớng QL1A, khi đi ra đến thôn 1, x ã H, huyện H thì bị Công an huyện H à Trung bắt quả tang đ ưa v ề trụ sở Công an huyện lập bi ên bản bắt ng ư ời phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: 01(một) xe máy hiệu YAMAHA loại Exciter m

àu đỏ đen mang BKS 36P2 -9101; 01(một) cuộn băng dính m àu đen; 01(một) ba lô màu xanh đen trên ba lô in chữ APPLE; 03(ba) b ì sắc rắn m àu cam; 01(một) bộ kích điện gồm: cần kích, dây điện, dây thong lọng, b

ình acquy; 01(một) con chó lông màu xám giống đực 32kg; 01(một ) con chó lông màu đen giống đực 11kg.

Tại bản kết luận định giá t

ài sản ng ày 13/11/2018, Hội đ ồng định giá t ài sản trong Tố tụng h ình sự huyện H à Trung đã xác định giá chó hơi tại thời điểm định giá là 65.000đ/1kg và kết luận: Tổng giá trị 43kg chó h

ơi có giá trị l à 2.795.000đồng .

Tại bản cáo trạng số

18/CT-VKS-HT ngày 13/02/2019, Viện kiểm sát nhâ n dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hoá đ ã truy tố Nguyễn Trọng Th về tội “T rộm cắp t ài sản ” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật h ình sự; Trương Công L về tội “Trộm cắp t ài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật h ình sự.

Tại phi ên toà, đại diện Viện kiểm

sát nhân dân huyện H à Trung giữ nguy ên quyết đ ịnh truy tố v à đề nghị áp dụng : Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm

s khoản 1 Điều 51 , Điều 38 Bộ luật h ình sự, xử phạt Nguyễn Trọng

Th từ 30 tháng đến 36 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, x ử phạt Trương Công L từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hư ởng án treo; về vật chứng tịch thu ti

êu hủy to àn bộ vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô cho gia đình bị cáo L và không áp dụng h ình phạt bổ sung l à tiền đối v ới các bị cáo.

Các bị cáo biết h ành vi phạm tội của m

ình là vi phạm phát luật, n ên đề nghị xem xét giảm nhẹ h ình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA T

ÒA ÁN:

Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v

ào các tài L trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xé t xử nhận định nh ư sau:

[1]. Về h ành vi, quyết địn h tố tụng của C

ơ quan đi ều tra huyện H à Trung, Điều tra vi ên; Viện Kiểm sát huyện H à Trung, Kiểm sát vi ên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr ình tự thủ tục

và thời gian the o quy định của Bộ luật tố tụng h

ình sự . Quá trình điều tra , truy tố và tại phi ên tòa, bị cáo và những ng ư ời tham gia tố tụng

không có ý kiến hoặc khiếu nại về h

ành vi, quyết định của C ơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của

Cơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về h ành vi phạm tội của bị cáo: Tại phi

ên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng Th và Trương Công

L đã thành khẩn khai nhận to àn bộ h ành vi phạm tội của m

ình đúng như cáo tr ạng Viện kiểm sát truy tố

. Đối chiếu lời khai nhận của

các bị cáo với lời khai của

bị hại và các tài L chứng cứ khác có trong hồ s

ơ v ụ án là hoàn toàn phù hợ p; Hội đồng xét xử

có đủ c ơ s ở kết luận : Khoảng 18 giờ 00 phút ng ày 08/11/2018 lợ i dụng lúc vắng ng ư ời Nguy ễn Trọng Th và Trương Công

L đã đã lén lút thực hiện việc

trộm cắp tài sản l à một con chó của gia đ ình anh Đào Văn H có trọng l ư ợng 32kg và một con chó của gia đ ình chị Ho àng Thị H có trọng l ư ợng 11kg. Tài sản trộm cắp

là 02 con chó có trọng l ư ợng 43kg v à tổng giá trị t ài sản trộm cắp theo định giá l à 2.795.000đồng . Như v ậy h ành của các bị cáo đ ã phạm vào tội “T rộm cắp t ài sản ”.

[3]. Về tính chất, mức độ nghi

êm trọng của h ành vi phạm tội :

Quyền sở hữu t

ài sản luôn đư ợc pháp luật bảo vệ nh

ưng Th và L đã không bỏ sức lao động chân chính để có đ

ư ợc, lợi dụng

việc vắng ng ư ời v à không có sự quản lý t ài sản của chủ sở hữu n

ên cả hai đã lén lút trộm cắp 02 con chó nhằm mục đích bán lấy tiền chi ti êu cá nhân. Hành vi trộm cắp t ài sản của các bị cáo l à nguy hiểm , gây hoang mang tâm lý trong nhân dân và gây mất trật tự x

ã hội n ên cần phải đ ư ợc xử lý nghi êm nhằm răn đe, giáo dục v à phòng ngừa chung.

Là vụ án có hai bị cáo tham gia thực hiện h

ành vi phạm tội nh ưng kh ông có sự câu kết chặt chẽ n

ên chỉ l à đồng phạm giản đ ơn.

[4]. Về nhân thân và tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự:

Các bị cáo không phải chịu t ình tiết tăng nặng.

Đối với Nguyễn Trọng Th: Là ngư ời khởi x ư ớng v à thực hiện tội phạm tích

cực và đã có ba tiền án về tội “Trộm cắp t

ài sản” , lần phạm tội n ày tiền án là tình tiết định khung h ình phạt. Nên cần xử cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng x

ã hội một thời gian để cải tạo giáo dục l

à cần thiết. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo th ành khẩn khai báo, t ài sản cũng đ ã kịp thời thu hồi để trả lại cho những ng ư ời bị hại n ên gây thiệt hại không lớn, đây l à những t ình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự theo điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật h

ình sự. Cần áp dụng những t ình tiế t này để giảm nhẹ mộ

t phần h ình phạt cho bị cáo.

Đối với Tr ương Công L: Mặc d ù không phải l à ngư ời khởi x ư ớng nh ưng b ị cáo là ngư ời thực hiện tích cực. Tuy nhi

ên trong quá trình điều tra v à tại phi ên tòa, bị cáo đ ã thành khẩn khai báo , tỏ r õ sự ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu v

à thuộc trư ờng hợp ít nghi êm trọng, tài sản cũng đ ã kịp thời thu hồi để trả lại cho những ng

ư ời bị hại n ên gây thiệt hại không lớn . Cần áp dụng điểm

h, i, s khoản 1 Điều 51 của B ộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần h

ình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy đ ư ợc sự khoan hồng của pháp luật.

Căn cứ v ào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h

ình sự v à mức độ nguy hiểm của tội phạm: Do bị cáo có n

ơi cư trú r õ ràng, có nhiều t ình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt n ên Hội đồng xét xử thấy rằng

không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống x

ã hội m à cần áp dụng Điều 65

của B ộ luật h ình sự cho bị cáo đ ư ợc h ư ởng án treo v à giao cho chính quyền địa ph ương theo d ỏi giám sát cũng đủ điều kiện

L sau này trở th ành ngư ời công dân tốt.

[5]. Về h ình phạt b ổ sung: Theo quy định của pháp luật các bị cáo có thể bị áp dụng h ình phạt bổ sung l à phạt tiền . Tuy nhiên theo các tài L chứng cứ v à lời khai của bị cáo tại phi ên tòa đều cho thấy, bị cáo l à lao động tự do, không có thu nhập , không có tài sản ri êng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự :

Quá trình điều tra xác định hai con chó gồm một con lông m àu xám có trọng lư ợng 32kg l à của anh Đ ào Văn H và một con lông m àu đen trọng l ư ợng 11kg l à của chị Ho àng Thị H . Hiện nay Cơ quan CSĐT Công an huy ện H à Trung đã trả lại cho anh H và chị H . Anh H và chị H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị g ì thêm nên miễn xét .

[7]. Về xử lý vật chứng:

Các vật chứng g ồm : 01(một) cuộn băng dính m àu đen; 01(một) ba lô m àu xanh đen trên ba lô in chữ APPLE; 03(ba) b ì sắc rắn m àu cam; 01(một) bộ kích điện gồm: cần kích, dây đ iện, dây thong lọng, b ình acquy. Xét thấy 01 cuộn băng dính màu đen; 01 ba lô màu xanh đen trên ba lô in chữ APPLE; 03 b ì sắc rắn m àu cam; cần kích; dây điện; dây th òng lọng . Đây là các công cụ phạm tội hiện nay không còn giá trị n ên tịch thu ti êu hủy, chiếc ắc quy cần thiết phải tịch thu sung quỹ nh à nư ớc.

Đối với c hiếc xe mô tô BKS 36 P2-9101 là xe của gia đình Trương Công L, việc d ùng chiếc xe l àm phương ti ện phạm tội

gia đình không biết . Hội đồng xét xử xét thấy, do chiếc xe l à tài sản của gia đ ình và gia đình L có đơn xin l ại chiếc xe . Nên cần t rả lại chiếc xe n ày cho bị cáo L.

[8]. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự s ơ th ẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ tr ên,

QUYẾT ĐỊNH :

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng Th và Trương Công L phạm tội “Trộm cắp t ài sản” .

- Áp dụng : Điểm g khoản 2 Điều 173 ; Điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật h ình sự.

Xử phạt : Bị cáo Nguyễn Trọng Th: 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt t ù tính từ ng ày tạm giữ: 08/11/2018.

- Áp dụng : Khoản 1 Điều 173; điểm h , i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật h

ình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trương Công L: 12 (Mư ời hai) tháng tù nhưng cho hư ởng án treo, thời gian thử thách l à 24 (Hai mươi b ốn) tháng tính từ ng ày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Trương Công L cho Ủy ban nhân dân xã Th, huyện H , tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trư ờng hợp ng ư ời đ ư ợc h ư ởng án treo thay đổi n ơi cư trú th ì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi h

ành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, ng ư ời đ ư ợc h ư ởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ

02 lần trở l ên thì Tòa án có thể quyết định buộc ng

ư ời đ ư ợc h ư ởng án treo phải chấp h ành hình phạt t ù của bản án đ ã cho hư ởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng

: Áp dụng Điều 47 Bộ luật h

ình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng h

ình sự.

Tịch thu ti êu huỷ 01 cuộn băng dính m àu đen; 01 ba lô màu xanh đen trên ba lô in chữ APPLE; 03 b ì sắc rắn m àu cam; một kích điện, cần kích; dây điện; dây thòng lọng .

Tịch thu nộp ngân sách nh à nư ớc 01 ắc quy nhãn hiệu DON GNAI loại 12v màu đen.

Trả lại cho bị cáo Trương Công L chiếc xe mô tô BKS 36 P2-9101, nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu sơn đỏ đen đã cũ .

(Tất cả h iện đang đ ư ợc l ưu gi ữ tại Chi cục thi h

ành án huyện H à Trung theo biên bản giao nhận ng ày 25/3/2019).

3. Về á n phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng h

ình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng

ày 30/12/2016 của Ủy ban

Th vụ Quốc Hội,

buộc bị cáo Nguyễn Trọng Th và Trương Công L mỗi bị cáo phải chịu 200.00 0đồng án phí h ình sự s ơ th ẩm.

Trư ờng hợp bản án đ

ư ợc thi h ành theo điều 2 Luật thi h ành án dân sự th ì ngư ời phải thi h ành án dân sự có quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi h ành án theo quy định tại các điều 6, 7 v à 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi h

ành án đư ợc thực hiện theo điều 30 Luật thi h

ành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo : Bị cáo , bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn

15 ngày, đối với Th và L kể từ ng ày tuyên án, đối với anh H và chị H kể từ n gày nhận đ ư ợc bản án hoặc ni êm yết.

Cỡ chữ